• Giá heo (lợn) hơi miền Bắc từ 60.000 - 66.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hà Nam 63.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hưng Yên từ 65.000 - 66.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Tuyên Quang 61.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hải Dương, Thái Bình và Nam Định 60.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Trung và Tây Nguyên từ 51.000 – 60.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Đắk Lắk 52.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa 60.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Bình, Ninh Thuận 54.000 - 56.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Nam từ 50.000 - 62.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Vũng Tàu 62.000 đ/kg
    •  
  • Xuất khẩu thức ăn chăn nuôi sang thị trường Trung Quốc tiếp tục giữ thị phần lớn

    Tiếp tục chiếm thị phần lớn nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu từ thị trường Việt Nam tính đến hết tháng 10/2018 kể từ đầu năm, Trung Quốc luôn dẫn đầu kim ngạch chiếm 32% tỷ trọng, bởi có vị trí địa lý và khoảng cách không xa so với các quốc gia khác, thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hóa. Mặc dù hàng năm Việt Nam vẫn phải nhập khẩu mặt hàng thức ăn gia súc và nguyên liệu, theo số liệu thống kê sơ bộ từ TCHQ thì 10 tháng đầu năm 2018 đã phải chi tới 3,2 tỷ USD, tăng 18,2%, nhưng ngược lại xuất khẩu nhóm hàng này cũng thu về 601,69 triệu USD (chiếm 0,3% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước), tăng 18% so với cùng kỳ năm 2017. Mặc dù, tháng 10/2018 kim ngạch xuất khẩu suy giảm 0,2% so với tháng 9/2018 chỉ đạt 59,64 triệu USD.

    Xuất khẩu thức ăn chăn nuôi sang thị trường Trung Quốc tiếp tục giữ thị phần lớn

    Trong số những quốc gia và vùng lãnh thổ thì Trung Quốc là thị trường có tỷ trọng lớn chiếm tới 32% đạt 190,63 triệu USD, tăng 16,79% so với cùng kỳ, tính riêng tháng 10/2018 đạt 18,57 triệu USD tăng 13,97% so với tháng 9/2018 và tăng 28,87% so với tháng 10/2017.

     

    Đứng thứ hai là thị trường Campuchia, chiếm 12,91% tỷ trọng đạt 77,71 triệu USD, tăng 15,57% so với cùng kỳ, mặc dù tháng 10/2018 kim ngạch xuất sang thị trường này giảm 21,54% chỉ đạt 7,85 triệu USD so với tháng 9/2018, nhưng nếu so sánh với tháng 10/2017 thì tăng 31,17%.

     

    Kế đến là các nước Ấn Độ, Malasyia và Mỹ đạt tương ứng 59,89 triêu USD; 56,97 triệu USD và 35,32 triệu USD tăng lần lượt 40,14%; 23,31% và 56,24%.

     

    Ngoài những thị trường kể trên, Việt Nam còn xuất khẩu sang các nước khác như Đài Loan (TQ), Indonesia, Malaysia…

     

    Nhìn chung, 10 tháng đầu năm nay xuất khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu sang các thị trường đều có tốc độ tăng trưởng, số này chiếm 76,92% và ngược lại thị trường với kim ngạch suy giảm chiếm 23%.

     

    Thời gian này, xuất khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu sang hai thị trường Hàn Quốc và Mỹ tiếp tục giữ tốc độ tăng trưởng vượt trội, cụ thể xuất sang Hàn Quốc tăng 76%, tuy kim ngạch chỉ đạt 24,29 triệu USD, mặc dù tháng 10/2018 giảm 76,38% so với tháng 9/2018 và giảm 28% so với tháng 10/2017 với 1,1 triệu USD; xuất sang Mỹ tăng 56,24% đạt 35,32 triệu USD, riêng tháng 10/2018 tăng 73,38% so với tháng 9/2018 và tăng 51,81% so với tháng 10/2017 đạt 5,25 triệu USD.

     

    Ở chiều ngược lại, xuất khẩu sang thị trường Indonesia cũng tiếp tục giảm mạnh, tuy nhiên mức giảm đã ít đi, nếu như 9 tháng đầu năm giảm 42,85% thì nay 10 tháng 2018 chỉ giảm 38,13% so với cùng kỳ 2017, đạt 10,06 triệu USD, mặc dù kim ngạch trong tháng 10/2018 tăng 14,8% so với tháng 9/2018 đạt trên 1 triệu USD, nhưng so với tháng 10/2017 tăng mạnh gấp 2,5 lần (tức tăng 145,46%).

     

    Thị trường xuất khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu 10 tháng năm 2018

    Thị trường T10/2018 (USD) +/- so với T9/2018 (%)* 10T/2018 (USD) +/- so với cùng kỳ năm 2017 (%)*
    Trung Quốc 18.571.821 13,98 190.639.023 16,79
    Campuchia 7.855.845 -21,54 77.710.381 15,57
    Ấn Độ 4.202.983 10,47 59.899.014 40,14
    Malaysia 6.228.119 6,18 56.973.165 23,31
    Mỹ 5.256.591 73,38 35.329.688 56,24
    Đài Loan 2.456.200 -10,85 25.257.797 26,9
    Nhật Bản 2.694.778 3,65 24.639.724 6,78
    Hàn Quốc 1.175.752 -76,38 24.291.939 76
    Thái Lan 1.860.160 31,81 24.152.644 -18,7
    Philippines 2.614.318 -21,93 19.730.229 5,33
    Bangladesh 710.975 -45,84 10.704.994 -22
    Indonesia 1.000.136 14,8 10.068.214 -38,13
    Singapore 222.275 8,92 2.811.212 23,16

    (*Vinanet tính toán số liệu từ TCHQ)

     

    Hương Nguyễn

    Nguồn: Vinanet

    Để lại comment của bạn

  • http://nguoinuoitom.vn

     

     

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Theo UBND xã Minh Châu – Ba Vì – Hà Nội, xác định lợi thế về đất đai, khí hậu nên những năm qua đã đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp là chính, trong đó xã tập trung đến phát triển chăn nuôi bò sinh sản, bò thịt. […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Trong bối cảnh bệnh Dịch tả lợn châu Phi (DTLCP) đã xảy ra tại TP Hồ Chí Minh, thành phố càng nỗ lực thực hiện các biện pháp kiểm soát chăn nuôi, giết mổ và tiêu thụ gắt gao. Hơn nữa, khảo sát một đêm tại thị trường […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Anh Trần Văn Toản, ở khu vực Bình Yên B, phường Long Hòa, quận Bình Thủy, TP. Cần Thơ là người đầu tiên ở Đồng bằng sông Cửu Long mở trang trại nuôi chim công rất thành công mà cho thu nhập hơn 200 triệu đồng/năm.   1/ […]

    • Giống chim này có khả năng thích ứng cao với điều kiện khí hậu ở nước ta, tỷ lệ nuôi sống đạt 94-99%.

    • Để đàn gà sinh trưởng phát triển tốt có tỷ lệ sống cao cần thực hiện tốt kỹ thuật úm gà con

    • Việt Nam cùng với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ… là những nước đã nuôi trồng thành công đông trùng hạ thảo.

    • Gà vảy cá được mệnh danh là “mỹ kê” đã được nhiều đại gia Việt sẵn sàng chi tiền triệu để hữu cặp gà vảy cá đẹp.

    • Cừu chính là loài vật nuôi thích hợp với những điều kiện khắc nghiệt của vùng đất Ninh Thuận.

    • Nghề nuôi chim cút đẻ hiện đang phổ biến ở rất nhiều hộ gia đình tại các địa phương và mang lại hiệu quả kinh tế khá.

    • Tỉnh Phú Thọ với địa hình đa dạng: nhiều gò, đồi thấp, dải đồng bằng thuận lợi cho chăn nuôi, trong đó, có chăn nuôi gà lông màu.