Bản tin thị trường ngành thịt trong nước và thế giới tháng 6.2026 - Chăn nuôi Việt Nam
    • Giá heo (lợn) hơi miền Bắc từ 60.000 - 70.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hà Nội 69.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hưng Yên 70.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Trung và Tây Nguyên từ 68.000 - 72.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Quảng Trị 70.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Thanh Hóa 68.000đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Lâm Đồng 72.000đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Nam từ 69.000 - 72.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Đồng Nai 72.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Cà Mau 70.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Đồng Tháp 71.000 đ/kg
    •  
  • Bản tin thị trường ngành thịt trong nước và thế giới tháng 6.2026

    Thị trường thịt toàn cầu trong tháng 6/2026 tiếp tục ghi nhận nhiều diễn biến trái chiều giữa các nhóm sản phẩm. Trong khi giá thịt bò, thịt cừu và thịt gia cầm duy trì xu hướng tăng nhờ nhu cầu nhập khẩu ổn định và nguồn cung hạn chế, giá thịt lợn tiếp tục giảm do dư cung tại thị trường châu Âu. Tại Việt Nam, giá lợn hơi hạ nhiệt so với tháng trước, trong khi hoạt động xuất nhập khẩu thịt tiếp tục phân hóa với xuất khẩu giảm về lượng nhưng nhập khẩu vẫn tăng.

     

    Giá thịt lợn tiếp tục giảm do dư cung tại thị trường châu Âu

     

    THỊ TRƯỜNG THỊT THẾ GIỚI

     

    Giá thịt thế giới diễn biến trái chiều, thịt lợn tiếp tục chịu áp lực giảm

     

    Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO), chỉ số giá thịt toàn cầu trong tháng 5/2026 đạt trung bình 130,5 điểm, gần như đi ngang so với tháng trước khi chỉ tăng 0,1%, nhưng vẫn cao hơn 6,3% so với cùng kỳ năm 2025. Biến động của thị trường tiếp tục phản ánh sự khác biệt rõ nét về cung – cầu giữa các nhóm sản phẩm, khi đà tăng của giá thịt bò, thịt cừu và thịt gia cầm gần như bù đắp hoàn toàn cho sự sụt giảm của giá thịt lợn.

     

    Trong đó, giá thịt bò tiếp tục xu hướng tăng trên thị trường quốc tế nhờ nhu cầu nhập khẩu mạnh. Đặc biệt từ Trung Quốc – nơi hạn ngạch nhập khẩu tiếp tục được sử dụng nhanh chóng – và từ Hoa Kỳ trong bối cảnh nguồn cung nội địa vẫn khan hiếm. Ở chiều cung, nhiều quốc gia xuất khẩu lớn vẫn đang trong quá trình tái đàn sau giai đoạn suy giảm trước đó, khiến nguồn hàng dành cho xuất khẩu chưa được cải thiện đáng kể và góp phần giữ giá ở mức cao.

     

    Đối với thịt cừu, thị trường tiếp tục ghi nhận xu hướng tăng giá nhờ nguồn cung xuất khẩu từ New Zealand được hỗ trợ bởi nguồn cung hạn chế. Mặc dù Australia gia tăng lượng giết mổ do điều kiện thời tiết khô hạn, kéo theo nguồn cung xuất khẩu tăng tạm thời và tạo áp lực giảm giá tại nước này, song yếu tố trên chỉ bù đắp được một phần sự thiếu hụt từ New Zealand.

     

    Ở nhóm thịt gia cầm, giá tăng nhẹ nhờ nhu cầu nhập khẩu ổn định đối với sản phẩm từ Brazil. Tuy nhiên, mức tăng không quá lớn do giá gia cầm tại Hoa Kỳ giảm nhẹ khi nguồn cung nội địa vẫn khá dồi dào.

     

    Ngược lại, thịt lợn tiếp tục là nhóm hàng chịu áp lực giảm giá. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ tình trạng dư cung tại thị trường Liên minh châu Âu (EU), trong khi nhu cầu nhập khẩu của nhiều thị trường vẫn ở mức thấp, khiến giá giao dịch quốc tế suy yếu trong tháng.

    Thịt lợn tiếp tục chịu áp lực giảm trong tháng 6/2026

     

    EU dự báo sản lượng thịt lợn giảm trong năm 2026

     

    Theo báo cáo cập nhật Triển vọng ngắn hạn thị trường nông nghiệp năm 2026 vừa được Ủy ban châu Âu công bố, ngành chăn nuôi lợn của EU được dự báo sẽ bước vào giai đoạn điều chỉnh mới sau hai năm phục hồi.

     

    Cụ thể, sản lượng thịt lợn của EU năm 2026 ước đạt khoảng 21,76 triệu tấn, giảm khoảng 1% so với mức 21,98 triệu tấn của năm 2025.

     

    Báo cáo cho thấy ngành chăn nuôi lợn châu Âu vẫn đang chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố bất lợi của môi trường kinh tế vĩ mô. Tình hình địa chính trị tại Trung Đông kéo dài tiếp tục đẩy chi phí năng lượng, vận tải và phân bón lên cao, kéo theo giá thức ăn chăn nuôi tăng và làm gia tăng áp lực lên chi phí sản xuất của các trang trại.

     

    Nhìn lại giai đoạn những năm gần đây, ngành chăn nuôi lợn EU đã trải qua quá trình điều chỉnh đáng kể. Sau khi đạt mức sản lượng cao nhất hơn 23,6 triệu tấn vào năm 2021, sản lượng giảm mạnh xuống còn khoảng 20,8 triệu tấn trong năm 2023 do nhu cầu nhập khẩu từ Trung Quốc suy giảm và quá trình cắt giảm đàn tại nhiều quốc gia thành viên. Giai đoạn 2024–2025 ghi nhận sự phục hồi khi sản lượng lần lượt đạt khoảng 21,3 triệu tấn và 22 triệu tấn, tuy nhiên xu hướng này được dự báo sẽ chững lại trong năm 2026.

     

    Không chỉ sản xuất, hoạt động thương mại của ngành thịt lợn châu Âu cũng được dự báo kém tích cực nhất. Sau khi đạt khoảng 2,98 triệu tấn trong năm 2025, lượng thịt lợn xuất khẩu của EU năm 2026 được dự báo giảm khoảng 3%, xuống còn 2,89 triệu tấn. Theo Ủy ban châu Âu, giá bán ở mức cao cùng bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều khó khăn có thể làm giảm sức cạnh tranh của thịt lợn EU trên thị trường quốc tế, mặc dù khu vực này vẫn duy trì cán cân thương mại xuất siêu.

     

    Ở chiều tiêu dùng, nhu cầu nội địa được đánh giá tương đối ổn định. Tiêu thụ thịt lợn bình quân đầu người tại EU trong năm 2026 dự kiến đạt khoảng 32,6 kg/người, giảm không đáng kể so với mức 32,9 kg/người của năm 2025 nhưng vẫn cao hơn giai đoạn thấp điểm năm 2023.

     

    Đáng chú ý, EU vẫn duy trì tỷ lệ tự chủ nguồn cung trên 115%, phản ánh năng lực sản xuất vẫn vượt nhu cầu tiêu dùng nội khối. Tuy nhiên, chỉ số này đang có xu hướng giảm dần, từ mức 126% của năm 2020 xuống 115,7% trong năm 2024 và dự báo còn khoảng 115,1% trong năm 2026.

     

    Nhìn chung, thị trường thịt thế giới trong những tháng đầu năm 2026 tiếp tục chịu tác động đồng thời từ sự phục hồi không đồng đều của nhu cầu tiêu dùng, quá trình tái cơ cấu đàn vật nuôi tại nhiều quốc gia và áp lực chi phí sản xuất. Trong bối cảnh đó, thịt bò và thịt cừu vẫn giữ xu hướng tăng giá nhờ nguồn cung hạn chế, trong khi thịt lợn nhiều khả năng sẽ còn đối mặt với áp lực giảm nếu tình trạng dư cung tại châu Âu chưa được cải thiện.

     

    THỊ TRƯỜNG THỊT TRONG NƯỚC

     

    Trong tháng 6/2026, thị trường lợn hơi trong nước ghi nhận xu hướng điều chỉnh giảm so với tháng 5/2026. Mặc dù mức giảm không diễn ra đồng đều giữa các địa phương, nhưng mặt bằng giá tại cả ba miền đều đi xuống, phản ánh diễn biến cung – cầu đang dần cân bằng hơn sau giai đoạn tăng mạnh hồi đầu năm.

     

    Khảo sát thị trường cho thấy, giá lợn hơi trên cả nước dao động trong khoảng 63.000 – 68.000 đồng/kg. Cụ thể:

     

    Giá lợn hơi tại khu vực miền Bắc dao động trong khoảng 67.000 – 68.000 đồng/kg, trong những ngày đầu tháng giá tăng từ 1.000 – 2.000 đồng/kg, sau lại giảm từ 1.000 – 3.000 đồng/kg so với tháng 5/2026

     

    Giá lợn hơi tại khu vực miền Trung và Tây Nguyên dao động trong khoảng 66.000 – 68.000 đồng/kg, trong tháng giá giảm từ 1.000 – 2.000 đồng/kg so với tháng 5/2026.

     

    Giá lợn hơi tại khu vực miền Nam dao động trong khoảng 63.000 – 68.000 đồng/kg, trong tháng giá giảm từ 1.000 – 8.000 đồng/kg so với tháng 5/2026.

    Nguồn: Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại tổng hợp

     

    TÌNH HÌNH XUẤT, NHẬP KHẨU THỊT VÀ CÁC SẢN PHẨM TỪ THỊT CỦA VIỆT NAM

     

    Tình hình xuất khẩu

     

    Theo số liệu thống kê sơ bộ của Cục Hải quan, trong 5 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu 7,6 nghìn tấn thịt và các sản phẩm từ thịt, đạt kim ngạch 50,62 triệu USD. So với cùng kỳ năm 2025, lượng xuất khẩu giảm 17,8%, trong khi giá trị vẫn tăng 3,2%, cho thấy giá xuất khẩu bình quân tiếp tục được cải thiện.

     

    Thịt và các sản phẩm từ thịt của Việt Nam đã được xuất khẩu tới 25 thị trường, trong đó Hồng Kông vẫn giữ vị trí là thị trường tiêu thụ lớn nhất. Trong 5 tháng đầu năm, xuất khẩu sang thị trường này đạt 2,5 nghìn tấn, trị giá 21,93 triệu USD, chiếm 33,29% tổng lượng và 43,34% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.

     

    Tuy nhiên, xuất khẩu sang Hồng Kông tiếp tục suy giảm khá mạnh khi giảm 42,2% về lượng và 26,9% về trị giá so với cùng kỳ năm trước. Các mặt hàng chủ lực vẫn là thịt lợn sữa nguyên con đông lạnh và thịt lợn nguyên con đông lạnh.

     

    Bên cạnh Hồng Kông, xuất khẩu thịt sang một số thị trường ghi nhận kết quả tích cực, với cả lượng và trị giá đều tăng so với cùng kỳ năm 2025. Đáng chú ý là các thị trường Trung Quốc, Pháp, Singapore, Hoa Kỳ, Campuchia và Hà Lan, phản ánh xu hướng mở rộng thị trường xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam.

     

    Ở chiều ngược lại, xuất khẩu thịt và các sản phẩm thịt sang một số thị trường như Bỉ, Canada, Malaysia, Hàn Quốc, Tây Ban Nha và Li-băng giảm so với cùng kỳ năm trước.

    Nguồn: Thống kê sơ bộ từ số liệu của Cục Hải quan Việt Nam

     

    Xét theo cơ cấu mặt hàng, thịt lợn tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh tiếp tục là sản phẩm xuất khẩu chủ lực, chiếm 35,7% tổng lượng và 46,49% tổng kim ngạch xuất khẩu. Tiếp theo là thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của gia cầm, chiếm 37,92% về lượng và 32,91% về trị giá; thịt và phụ phẩm của các loại động vật khác chiếm 25,82% về lượng và 18,21% về trị giá.

     

    Riêng mặt hàng thịt lợn tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh đạt 2,7 nghìn tấn, trị giá 23,53 triệu USD, giảm 24,4% về lượng và giảm 15% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, xuất khẩu sang Hồng Kông tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn nhưng giảm 27% về lượng và 19,4% về trị giá.

     

    Tình hình nhập khẩu

     

    Trong khi xuất khẩu có xu hướng giảm về sản lượng, nhập khẩu thịt và các sản phẩm từ thịt của Việt Nam tiếp tục tăng trong những tháng đầu năm.

     

    Theo thống kê sơ bộ từ số liệu của Cục Hải quan, 5 tháng đầu năm 2026, Việt Nam nhập khẩu 408,5 nghìn tấn thịt và các sản phẩm từ thịt với tổng kim ngạch khoảng 1,2 tỷ USD, tăng 11,4% về lượng và tăng 39,6% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.

     

    Ấn Độ tiếp tục là thị trường cung cấp lớn nhất, với 92,3 nghìn tấn, trị giá 390,61 triệu USD, tăng 33% về lượng và tăng 63,2% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025, chiếm 22,61% tổng lượng nhập khẩu của cả nước.

     

    Ngoài ra, nhập khẩu từ Hoa Kỳ, Brazil, Tây Ban Nha, Canada, Đức, Thổ Nhĩ Kỳ, Nhật Bản và Slovenia cũng ghi nhận mức tăng cả về lượng và giá trị. Trong khi đó, lượng nhập khẩu từ Nga, Hàn Quốc, Ba Lan, Argentina, Iran và Bỉ có xu hướng giảm.

    Nguồn: Thống kê sơ bộ từ số liệu của Cục Hải quan Việt Nam

     

    Về cơ cấu nhập khẩu, thịt và phụ phẩm ăn được của gia cầm tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn nhất với 37,8% tổng lượng nhập khẩu. Tiếp theo là thịt trâu đông lạnh chiếm 21,1%, thịt lợn tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 14,5%, phụ phẩm ăn được của lợn, trâu, bò chiếm 15,6% và thịt bò chiếm khoảng 6% tổng lượng nhập khẩu.

     

    Đối với riêng mặt hàng thịt lợn, Việt Nam nhập khẩu 59,2 nghìn tấn, trị giá 128,27 triệu USD, tăng 2,5% về lượng nhưng giảm 16% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.

     

    Giá nhập khẩu bình quân đạt 2.152 USD/tấn, giảm 18,5% so với cùng kỳ năm trước. Diễn biến này cho thấy giá thịt lợn trên thị trường quốc tế vẫn đang ở mức thấp, tạo điều kiện để doanh nghiệp tăng nhập khẩu phục vụ chế biến và tiêu dùng trong nước.

     

    Nguồn cung thịt lợn nhập khẩu của Việt Nam đến từ 18 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó Nga vẫn là nhà cung cấp lớn nhất với 29,4% tổng lượng nhập khẩu. Tiếp theo là Tây Ban Nha chiếm 30,4%, Brazil chiếm 22,5%, Đức chiếm 6,6%, còn lại là các thị trường khác.

    Nguồn: Thống kê sơ bộ từ số liệu của Cục Hải quan Việt Nam

     

    Bức tranh thị trường thịt trong tháng 6/2026 cho thấy xu hướng phân hóa vẫn tiếp tục diễn ra giữa thị trường trong nước và thế giới. Trên thị trường quốc tế, giá các loại thịt có sự biến động trái chiều khi thịt bò, thịt cừu và gia cầm được hỗ trợ bởi nhu cầu tiêu dùng cùng nguồn cung hạn chế, trong khi thịt lợn vẫn chịu sức ép từ tình trạng dư cung tại châu Âu.

     

    Nguồn: Bản tin thị trường nông-lâm-thủy sản, Bộ Công thương

    Để lại comment của bạn


    Bình luận mới nhất

  • Le thi chi
  • 0383775034

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Theo UBND xã Minh Châu – Ba Vì – Hà Nội, xác định lợi thế về đất đai, khí hậu nên những năm qua đã đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp là chính, trong đó xã tập trung đến phát triển chăn nuôi bò sinh sản, bò thịt. […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Trong bối cảnh bệnh Dịch tả lợn châu Phi (DTLCP) đã xảy ra tại TP Hồ Chí Minh, thành phố càng nỗ lực thực hiện các biện pháp kiểm soát chăn nuôi, giết mổ và tiêu thụ gắt gao. Hơn nữa, khảo sát một đêm tại thị trường […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Anh Trần Văn Toản, ở khu vực Bình Yên B, phường Long Hòa, quận Bình Thủy, TP. Cần Thơ là người đầu tiên ở Đồng bằng sông Cửu Long mở trang trại nuôi chim công rất thành công mà cho thu nhập hơn 200 triệu đồng/năm.   1/ […]

    • Giống chim này có khả năng thích ứng cao với điều kiện khí hậu ở nước ta, tỷ lệ nuôi sống đạt 94-99%.

    • Để đàn gà sinh trưởng phát triển tốt có tỷ lệ sống cao cần thực hiện tốt kỹ thuật úm gà con

    • Việt Nam cùng với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ… là những nước đã nuôi trồng thành công đông trùng hạ thảo.

    • Gà vảy cá được mệnh danh là “mỹ kê” đã được nhiều đại gia Việt sẵn sàng chi tiền triệu để hữu cặp gà vảy cá đẹp.

    • Cừu chính là loài vật nuôi thích hợp với những điều kiện khắc nghiệt của vùng đất Ninh Thuận.

    • Nghề nuôi chim cút đẻ hiện đang phổ biến ở rất nhiều hộ gia đình tại các địa phương và mang lại hiệu quả kinh tế khá.

    • Tỉnh Phú Thọ với địa hình đa dạng: nhiều gò, đồi thấp, dải đồng bằng thuận lợi cho chăn nuôi, trong đó, có chăn nuôi gà lông màu.