Nguy cơ thuốc thú y và thức ăn bổ sung thuộc phân loại hàng hóa rủi ro cao - Chăn nuôi Việt Nam
    • Giá heo (lợn) hơi miền Bắc từ 60.000 - 70.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hà Nội 69.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hưng Yên 70.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Trung và Tây Nguyên từ 68.000 - 72.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Quảng Trị 70.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Thanh Hóa 68.000đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Lâm Đồng 72.000đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Nam từ 69.000 - 72.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Đồng Nai 72.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Cà Mau 70.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Đồng Tháp 71.000 đ/kg
    •  
  • Nguy cơ thuốc thú y và thức ăn bổ sung thuộc phân loại hàng hóa rủi ro cao

    [Chăn nuôi Việt Nam] – Vừa qua, tại Hà Nội, Hội Thú y Việt Nam phối hợp với Hội Chăn nuôi Việt Nam và Hiệp hội Thức ăn chăn nuôi Việt Nam đã tổ chức buổi tọa đàm thảo luận về dự thảo Thông tư phân loại sản phẩm, hàng hóa theo mức độ rủi ro. Tâm điểm của cuộc thảo luận là những quan ngại từ phía chuyên gia và doanh nghiệp khi Thuốc thú y (TTY) và Thức ăn bổ sung (TABS) bị đề xuất xếp vào nhóm “nguy cơ rủi ro cao”.

     

    Toàn cảnh tọa đàm

     

    Dự kiến phân loại sản phẩm, hàng hóa đối với lĩnh vực TACN, thuốc thú y và xử lý chất thải chăn nuôi thuộc 02 nhóm

     

    Bộ NN&MT chuẩn bị ban hành Thông tư danh mục sản phẩm, hàng hóa theo mức độ rủi ro trung bình và rủi ro cao. Trước đó, cuối năm 2025, Cục Chăn nuôi và Thú y có công văn số 4101/CNTY-CSPC gửi Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường về việc: Đề xuất Danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình và mức độ rủi ro cao. Trong phần Phụ lục, Cục Chăn nuôi và Thú y đề xuất: Thức ăn bổ sung và Thuốc Thú y thuộc danh mục hàng hóa có mức độ rủi ro cao. Các sản phẩm như thức ăn truyền thống, thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh, thức ăn đậm đặc, sản phẩm xử lý chất thải chăn nuôi thuộc danh mục hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình.

     

    Đây là một nội dung tác động lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, bởi theo quy định của pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa, nhóm hàng hóa rủi ro cao là nhóm sản phẩm phải chịu cơ chế quản lý chặt chẽ nhất, kéo theo nhiều yêu cầu về kiểm soát chất lượng, đánh giá phù hợp, thủ tục quản lý và chi phí tuân thủ.

     

    Tại tọa đàm, TS. Nguyễn Thị Hương – Chủ tịch Hội Khoa học Kỹ thuật Thú y Việt Nam – bày tỏ sự bất ngờ trước đề xuất này. Bà kêu gọi cộng đồng doanh nghiệp cần phối hợp chặt chẽ với các Hội, Hiệp hội để đưa ra những phản biện khoa học, thực tiễn và thuyết phục nhất nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng, tránh việc áp đặt danh mục rủi ro cao thiếu chọn lọc.

     

    Thức ăn bổ sung có thực sự “nguy cơ cao”?

     

    TS. Ninh Thị Len – Phó Chủ tịch Hiệp hộiThức ăn chăn nuôi Việt Nam – chia sẻ, BộNN&MT đã thành lập ban soạn thảo để phânloại hàng hóa theo mức độ rủi ro, thực hiệntheo nguyên tắc tại Phụ lục của Nghị địnhsố 37/2026/NĐ-CP. Theo quy định, việc phânloại hàng hóa phải dựa trên báo cáo thuyếtminh và ý kiến của các Hội, Hiệp hội. Do đó,các đơn vị cần sát sao đồng hành cùng quátrình xây dựng Thông tư để bảo vệ nhómhàng hóa của mình.

     

    Bà Len phân tích: “Tôi đã thử tính toán dựatrên các hệ số và chỉ số quy định tại Phụ lục.  Kết quả cho thấy TABS cùng lắm chỉ nằm ởmức rủi ro trung bình (từ 4,5 – 16 điểm), chưatới ngưỡng rủi ro cao (trên 16,5 điểm)”.

     

    Theo Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa, nhóm rủi ro cao buộc phải đăng ký truy xuất nguồn gốc, hòa mạng dữ liệu quốc gia và công khai hệ thống. Từng lô hàng, lô sản xuất đều phải cập nhật dữ liệu. Bà Len lo ngại đa số doanh nghiệp TABS hiện nay chưa thể đáp ứng ngay yêu cầu này.

     

    Đồng quan điểm, đại diện bộ phận pháp lý một doanh nghiệp thuốc thú y phân tích thêm: Truy xuất nguồn gốc là quy trình cực kỳ phức tạp từ khâu sản xuất, lưu thông đến nhập – xuất kho. Với những đơn vị có hàng trăm mã sản phẩm, việc dán tem và quản lý dữ liệu chi tiết nếu áp dụng ngay mà không có lộ trình sẽ gây ra gánh nặng vận hành khổng lồ.

     

    Cần phân loại chi tiết và có lộ trình thích nghi

     

    TS. Nguyễn Xuân Dương, Chủ tịch Hội Chăn nuôi Việt Nam nhận định, mặc dù quản lý chặt chẽ là cần thiết để ngăn chặn hàng kém chất lượng và tạo sự công bằng với hàng nhập khẩu, nhưng đối với TABS, việc xếp vào rủi ro cao là “không ổn”. Ông đề xuất cần phân loại chi tiết các nhóm chất (vitamin, axit amin, sunfat…) để xác định mức rủi ro dựa trên tính toán điểm minh bạch.

     

    Ở góc nhìn tích cực hơn, PGS.TS Bùi Trần Anh Đào, Trưởng Khoa Thú y, Học Viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, việc nâng cao tiêu chuẩn cũng là cơ hội để các doanh nghiệp uy tín khẳng định thương hiệu và đáp ứng chuẩn mực quốc tế. Ông dẫn chứng việc cấm kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi đã thúc đẩy doanh nghiệp chuyển dịch sang sử dụng thảo dược, thay đổi công thức và tăng cường an toàn sinh học để đảm bảo miễn dịch tự nhiên cho vật nuôi.

     

    Để việc phân loại hàng hóa là thuốc thú y và TABS đảm bảo lợi ích hài hòa, thì các Hội/ Hiệp hội, chuyên gia và nhất là các doanh nghiệp cần dành nhiều thời gian, công sức, trí tuệ cử chuyên gia đóng góp, tham gia ý kiến, lập luận có căn cứ khoa học rõ ràng trên tinh thần cầu thị, cởi mở. Cùng với đó, các cơ quan chức năng cũng cần lắng nghe nguyện vọng của cộng đồng doanh nghiệp, vì lợi ích và sự phát triển của ngành chăn nuôi Việt Nam trong kỷ nguyên mới.

     

    Hà Ngân

    Căn cứ đề xuất: Thức ăn truyền thống, thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh, thức ăn đậm đặc thuộc danh mục hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình; thức ăn bổ sung thuộc danh mục hàng hóa có mức độ rủi ro cao

     

    (Trích: Phụ lục công văn số 4101/CNTY-CSPC)

     

    (1). Nguyên tắc xác định mức rủi ro theo quy định tại Dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chất lượng, sản phẩm hàng hóa:

     

    – Điểm c khoản 1 Điều 4 “c) Bảo đảm tính minh bạch, khách quan, kế thừa nguyên tắc quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa”;

     

    – Khoản 3 Điều 4 “3. Phương pháp xác định mức độ rủi ro theo nguyên tắc kế thừa phương thức quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hoá được quy định như sau:

     

    (1) a) Sản phẩm, hàng hoá có mức độ rủi ro cao là sản phẩm, hàng hoá được quy định là đối tượng đang thực hiện công bố hợp quy dựa trên kết quả chứng nhận của tổ chức chứng nhận được chỉ định; b) Sản phẩm, hàng hoá có mức độ rủi trung bình là sản phẩm, hàng hoá được quy định là đối tượng đang thực hiện công bố hợp quy dựa trên kết quả tự đánh giá hoặc kết quả chứng nhận của tổ chức chứng nhận được công nhận; c) Sản phẩm, hàng hoá có mức độ thấp là sản phẩm, hàng hoá không bị điều chỉnh bởi quy chuẩn kỹ thuật quốc gia”.

     

    (2). Khoản 2 Điều 4 Nghị định số 132/2008/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 2 Điều 1 Nghị định 74/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 132/2018/NĐ-CP ngày 31/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa:

     

    “2. Đối với sản phẩm nhóm 2, người sản xuất phải công bố hợp quy theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng. Việc công bố hợp quy được quy định chi tiết tại các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng theo một trong các biện pháp sau: a) Kết quả tự đánh giá sự phù hợp của tổ chức, cá nhân; b) Kết quả chứng nhận của tổ chức chứng nhận đã đăng ký hoặc được thừa nhận theo quy định của pháp luật; c) Kết quả chứng nhận của tổ chức chứng nhận được chỉ định theo quy định của pháp luật”.

     

    (3)  Khoản 2 Điều 18 Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21/01/2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi: a) Đối với thức ăn chăn nuôi truyền thống, thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh: Kiểm tra nhà nước về chất lượng dựa trên kết quả tự đánh giá sự phù hợp của tổ chức, cá nhân hoặc kết quả chứng nhận của tổ chức chứng nhận đã đăng ký hoặc kết quả chứng nhận của tổ chức chứng nhận được chỉ định chứng nhận hợp quy lĩnh vực thức ăn chăn nuôi theo quy định của pháp luật….. b) Đối với sản phẩm thức ăn chăn nuôi không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này: Kiểm tra nhà nước về chất lượng dựa trên kết quả chứng nhận của tổ chức chứng nhận được chỉ định chứng nhận hợp quy lĩnh vực thức ăn chăn nuôi”.

     

    (4). Thông tư số 04/2020/TT-BNNPTNT ngày 09/3/2020 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT về việc ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu sản xuất thức ăn thủy sản Ban hành kèm theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia: Thức ăn chăn nuôi – Hàm lượng tối đa cho phép các chỉ tiêu an toàn trong thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu sản xuất thức ăn thủy sản (QCVN 01 – 190: 2020/BNNPTNT), quy định: “1.1. Đối với thức ăn truyền thống, thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh và thức ăn đậm đặc cho vật nuôi, nguyên liệu sản xuất thức ăn thủy sản: Tổ chức, cá nhân công bố hợp quy được lựa chọn 01 trong 03 hình thức sau: a) Kết quả tự đánh giá sự phù hợp của tổ chức, cá nhân. b) Kết quả chứng nhận của tổ chức chứng nhận đã đăng ký lĩnh vực hoạt động hoặc thừa nhận theo quy định của pháp luật. c) Kết quả chứng nhận của tổ chức chứng nhận được chỉ định theo quy định của pháp luật. 1.2. Đối với thức ăn bổ sung: Tổ chức, cá nhân công bố hợp quy dựa trên kết quả chứng nhận của tổ chức chứng nhận hợp quy được chỉ định theo quy định của pháp luật”.

     

    (5). Thông tư số 20/2024/TT-BNNPTNT ngày 06/12/2024 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT về việc ban hành QCVN 01-183:2024 sửa đổi, bổ sung QCVN 01- 183:2016/BNNPTNT quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về thức ăn chăn nuôi – Quy định giới hạn tối đa cho phép hàm lượng độc tố nấm mốc, kim loại nặng và vi sinh vật trong thức ăn hỗn hợp cho gia súc, gia cầm (QCVN 01 – 190: 2020/BNNPTNT), quy định: “3.3.1. Biện pháp đánh giá sự phù hợp: Tổ chức, cá nhân được lựa chọn 01 trong 03 biện pháp sau đây: a) Kết quả tự đánh giá sự phù hợp của tổ chức, cá nhân; b) Kết quả chứng nhận của tổ chức chứng nhận đã đăng ký hoặc được thừa nhận theo quy định của pháp luật; c) Kết quả chứng nhận của tổ chức chứng nhận được chỉ định theo quy định của pháp luật”.

     

    Căn cứ đề xuất thuốc thú y thuộc danh mục hàng hóa có mức độ rủi ro cao

    (Trích: Phụ lục công văn số 4101/CNTY-CSPC)

     

    Thuốc thú y thuộc sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro cao dù điều kiện sản xuất được quản lý chặt chẽ, nghiêm ngặt nhưng vẫn nguy cơ phát tán mầm bệnh ra môi trường trong sản xuất vắc xin thú y, trong vận chuyển, lưu giữ, bảo quản, tiềm ẩn nguy cơ lây lan dịch bệnh. Ngoài ra, vấn đề tồn dư thuốc thú y trong sản phẩm động vật, gây mất an toàn thực phẩm, là mối nguy về kháng kháng sinh. Vi sinh vật kháng kháng sinh làm ảnh hưởng đến tính bền vững của hệ thống sản xuất lương thực, thực phẩm làm ô nhiễm môi trường, đe dọa sức khỏe và đời sống của người dân.

     

    Tình trạng kháng kháng sinh làm tăng chi phí chăm sóc sức khỏe cho con người, vật nuôi là gánh nặng kinh tế cho gia đình và xã hội. Việc lạm dụng hóa chất trong khử trùng tiêu độc cũng là nguy cơ ảnh hưởng xấu đến môi trường khi sử dụng. Đồng thời, thuốc thú y phải bảo đảm chất lượng theo yêu cầu kỹ thuật tại quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về thuốc thú y và được cấp Giấy chứng nhận lưu hành thuốc thú y tại Việt Nam theo quy định tại Điều 78 Luật Thú y. Do đó, việc phân loại thuốc thú y thuộc nhóm hàng hóa rủi ro cao phù hợp với quy định về nguyên tắc phân loại và quản lý chất lượng sản phẩm hàng hóa tại Điều 5 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng, sản phẩm hàng hóa năm 2025.

     

    Để lại comment của bạn

    Bình luận mới nhất

  • Nguyễn Thị Lành
  • Cần tư vấn

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Theo UBND xã Minh Châu – Ba Vì – Hà Nội, xác định lợi thế về đất đai, khí hậu nên những năm qua đã đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp là chính, trong đó xã tập trung đến phát triển chăn nuôi bò sinh sản, bò thịt. […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Trong bối cảnh bệnh Dịch tả lợn châu Phi (DTLCP) đã xảy ra tại TP Hồ Chí Minh, thành phố càng nỗ lực thực hiện các biện pháp kiểm soát chăn nuôi, giết mổ và tiêu thụ gắt gao. Hơn nữa, khảo sát một đêm tại thị trường […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Anh Trần Văn Toản, ở khu vực Bình Yên B, phường Long Hòa, quận Bình Thủy, TP. Cần Thơ là người đầu tiên ở Đồng bằng sông Cửu Long mở trang trại nuôi chim công rất thành công mà cho thu nhập hơn 200 triệu đồng/năm.   1/ […]

    • Giống chim này có khả năng thích ứng cao với điều kiện khí hậu ở nước ta, tỷ lệ nuôi sống đạt 94-99%.

    • Để đàn gà sinh trưởng phát triển tốt có tỷ lệ sống cao cần thực hiện tốt kỹ thuật úm gà con

    • Việt Nam cùng với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ… là những nước đã nuôi trồng thành công đông trùng hạ thảo.

    • Gà vảy cá được mệnh danh là “mỹ kê” đã được nhiều đại gia Việt sẵn sàng chi tiền triệu để hữu cặp gà vảy cá đẹp.

    • Cừu chính là loài vật nuôi thích hợp với những điều kiện khắc nghiệt của vùng đất Ninh Thuận.

    • Nghề nuôi chim cút đẻ hiện đang phổ biến ở rất nhiều hộ gia đình tại các địa phương và mang lại hiệu quả kinh tế khá.

    • Tỉnh Phú Thọ với địa hình đa dạng: nhiều gò, đồi thấp, dải đồng bằng thuận lợi cho chăn nuôi, trong đó, có chăn nuôi gà lông màu.