[Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Trong chăn nuôi lợn theo hướng công nghiệp, việc nắm rõ cách thức vận hành trại có ảnh hưởng rất lớn đến chi phí xây dựng trại. Cách bố trí lợn từ lúc phối đến khi chuyển lên đẻ có ảnh hưởng rất lớn đến chi phí xây dựng chuồng mang thai. Vì thế, việc áp dụng cách bố trí lợn ngay từ giai đoạn bắt đầu thiết kế chuồng trại sẽ tiết kiệm được khá nhiều chi phí trong việc xây trại. Ngoài ra, việc thiết kế chuồng mang thai không tốt cũng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến năng suất và chi phí nhân công.
Cách thứ bố trí lợn trong trại
Trong bài viết này, tôi sẽ đề cập đến 2 vấn đề:
- Tiết kiệm chi phí xây chuồng mang thai thông qua cách thức sắp xếp lợn từ lúc phối đến khi chuyển đẻ.
- Thiết kế chuồng mang thai cần tiết kiệm được công lao động mà vẫn đảm bảo năng suất chăn nuôi cao; đảm bảo thuận tiện và dễ dàng cho người sử dụng.
1. Tiết kiệm chi phí xây chuồng mang thai thông qua cách thức sắp xếp lợn từ khi phối đến khi chuyển đẻ
Trong chăn nuôi lợn theo hướng công nghiệp, việc phối giống thường được áp dụng theo nhóm, mà phổ biến nhất hiện nay là nhóm phối 1 tuần. Việc phối giống 2 tuần một lần hay 3 tuần một làm cũng có áp dụng nhưng không phổ biến và chỉ thường áp dụng cho các trại có quy mô nhỏ từ 600 nái trở xuống. Và lợn từ khi phối giống đến trước khi chuyển đẻ thường được bố trí theo hình chữ Z trong nhà mang thai để dễ quản lý, theo dõi. Trong mô hình bố trí lợn theo hình chữ Z, có 02 cách bố trí:
Cách 1: Bố trí lợn theo hình chữ Z xuyên suốt từ khi phối đến khi chuyển đẻ.
Ưu điểm: Không gây nhiều strees cho lợn do ít chuyển lợn hơn và ít tốn công lao động hơn.
Hạn chế:
- Tốn nhiều ô chuồng và thậm chí bỏ trống ô chuồng nếu lợn lên giống lại hoặc sảy thai.
- Khó vệ sinh ô chuồng do không được trống liên tục khi chuyển lên đẻ.
Ví dụ: Trại lợn có quy mô 1,200 nái và có 54 ô đẻ / tuần. Tỷ lệ đẻ là 85%. Vậy số nái cần phối cho mỗi tuần là 54 : 85% = 64 nái. Như vậy số ô chuồng cá thể cần cho cách bố trí này là 64 x 17 tuần = 1,088 ô.
Cách 2: Bố trí theo hình chữ Z nhưng chia làm 02 giai đoạn: Giai đoạn mang thai sớm (phối đến 5 tuần mang thai) và giai đoạn mang thai muộn (Tuần mang thai thứ 6 đến khi chuyển đẻ).
Ưu điểm:
- Tiết kiệm được ô chuồng nuôi.
- Dễ vệ sinh chuồng trại do trống liên tục khi chuyển lợn lên đẻ.
Hạn chế: Gây stress cho lợn hơn so với cách 1. Tuy nhiên, trong thực tế không ảnh hưởng gì nhiều đến năng suất.
Ví dụ: Trại lợn có quy mô 1,200 nái và có 54 ô đẻ / tuần. Tỷ lệ đậu thai lúc 4 tuần là 90% và tỷ lệ đẻ là 85%. Vậy số nái cần phối cho mỗi tuần là 54 : 85% = 64 nái, số nái mang thai sau 4 tuần là 64 x 90% = 58 nái. Như vậy số ô chuồng cá thể cần cho cách bố trí này là (64 x 6 tuần) + (58 x 11 tuần) = 1,022 ô.
Vậy so sánh giữa 2 cách bố trí lợn, ta thấy cách thứ 2 tiết kiệm được 66 ô cá thể.
Như vậy, trong thiết kế chuồng mang thai chúng ta cần phải thiết kế:
- Khu vực phối giống: Tương ứng cho 01 tuần (số lượng ô cá thể thường bằng hoặc nhỏ hơn số lượng nái cần phối cho 1 tuần (hoặc 01 nhóm)).
- Khu vực mang thai giai đoạn sớm: Tương ứng cho 05 tuần (số lượng ô cá thể bằng với số lượng nái cần phối cho 1 tuần (hoặc 1 nhóm) x 5 tuần).
- Khu vực mang thai giai đoạn muộn: Tương ứng cho 11 tuần (số lượng ô cá thể bằng số lượng nái phối cho 1 tuần (hoặc 1 nhóm) x 90% x 11 tuần).
- Ngoài ra, cần thiết kế một số ô nuôi nhóm để xử lý nái có vấn đề hay cái hậu bị.
Trong cả 2 cách, sau khi phối giống xong tại khu vực phối thì lợn được chuyển về cố định theo từng tuần phối.
Đối với cách 1: Lợn sẽ được bố trí liên tục từ tuần số 1 đến tuần số 16 theo hình chữ Z. Vì thế sau khi phối cho đến khi đạt 16 tuần mang thai, con nái nào lên giống lại hay sảy thai thì sẽ được chuyển về khu phối giống. Cũng như tại thời điểm 30 ngày mang thai khi tiến hành khám thai, những con lợn nghi ngờ không mang thai cũng sẽ được chuyển về khu phối giống. Vì vậy, những con chuyển đi sẽ tạo ra ô trống cho tuần đó và nó duy trì cho đến khi lợn nái của tuần đó chuyển hết lên chuồng đẻ. Chưa nói trong sản xuất, có con nái lên giống sớm nhưng kết thúc muộn, mà khi chuyển đẻ thì dựa vào ngày phối nên các ô nái chuyển lên đẻ sẽ không được trống liên tục nên sẽ khó vệ sinh nếu không thực hiện sắp xếp lại lợn.
Đối với cách 2: Lợn sẽ được bố trí liên tục từ tuần số 1 đến tuần số 5 (khu vực mang thai sớm). Những con lên giống lại hay không mang thai cũng được chuyển trở lại khu vực phối. Từ tuần số 6 đến tuần 16 (khu vực mang thai muộn), cũng được bố trí theo hình chữ Z nhưng là những con đã được khám thai và chắc chắn mang thai. Vì vậy chỉ có những trường hợp nái bị sảy thai hay khô thai thì mới tạo ra ô trống mà thôi. Nhưng số này thường không nhiều.
2. Thiết kế chuồng mang thai cần tiết kiệm được công lao động mà vẫn đảm bảo năng suất
Như chúng ta đã biết, năng suất của trại nái phụ thuộc rất lớn vào công tác quản lý, chăm sóc, theo dõi lên giống và phối giống. Vậy thiết kế chuồng mang thai để làm sao vừa nâng cao năng suất, vừa tiết kiệm được công lao động cũng như vận hành dễ dàng. Để làm được việc này, chúng ta cần phải hiểu rõ các yếu tố ảnh hưởng đến việc lên giống và phối giống. Để nái lên giống tốt, chúng ta cần đảm bảo các yếu tố sau:
- Chế độ ánh sáng: Thời gian chiếu sáng cho nái cần đảm bảo từ 16 – 18 giờ mỗi ngày. Vì vậy, trong thiết kế chuồng trại cho khu vực phối, chúng ta cần lắp đặt hệ thống chiếu sáng bằng đèn tuýp 1,2 mét cho toàn bộ chiều dài của khu vực phối và cần lắp đặt hệ thống hẹn giờ loại 24 giờ (timer) và cài tự động bật sáng từ lúc 6h sáng đến lúc 20h tối. Với những ô hậu bị nuôi nhóm để phối, chúng ta cũng cần lắp đèn và timer tư tượng như khu phối.
- Chế độ ăn: Khu vực phối giống, măng ăn cần được thiết kế là sao cho lúc nào cũng có thức ăn vì nái sau khi cai sữa chuyển về chuồng mang thai cần cho ăn tự do và ăn loại thức ăn của nái nuôi con. Với những ô hậu bị nuôi nhóm để phối giống cũng vậy.
- Chế độ nọc: Cần đưa nọc đi để kiểm tra lên giống và phối giống mỗi ngày 2 lần. Nọc phải tiếp xúc được mũi với mũi. Với khu vực phối giống thì cần làm vách ngăn mỗi 5 ô một. Và sử dụng ít nhất 02 nọc trong quá trình giống.
Như vậy, trong công tác thiết kế ngoài việc giảm nhân công lao động thông qua việc lắp đặt hệ thống thức ăn tự động thì một số tiểu tiết nhỏ cũng góp phần đáng kể trong việc tiết kiệm công lao động. Cụ thể:
- Lối đi phía trước: Trước đây, thiết kế lối đi phía trước khá rộng phần vì phải chở cám cho lợn ăn, phần vì phải vệ sinh dưới gầm nên khi đưa nọc đi kiểm tra lên giống và phối giống theo lối này nó vừa khá rộng, lại vừa thấp hơn sàn của nái đứng ít nhất 40 cm. Chính vì vậy, khi đưa nọc đi kiểm tra lên giống phối giống cần phải có 02 công nhân chận 2 đầu để giữ nọc. Hơn nữa, việc tiếp xúc mũi với mũi cũng bị hạn chế bởi độ cao nên không được hiệu quá lớn trong việc kích thích lên giống cho nái.
- Lối đi phía sau: Do việc thiết kế trước đây, phần lớn sử dụng có 1 cửa phía sau nên lối đi phí sau cũng khá rộng mới đảm bảo lòi lợn ra khỏi ô chuồng bằng cách đi thuộc lùi. Và đó cũng chính là lý do khi chuyển lợn vào ô chuồng cần có công nhân chận đầu mới cho lợn vào ô mong muốn được. Vì cửa mở ra không chốt chặn được lối đi do độ rộng tối đa của cửa chỉ 70 cm mà độ rộng của lối đi lớn hơn 70 cm. Ngày nay, việc thiết kế chuồng trại phần lớn sử dụng 02 của. Cửa phía sau để cho lợn vào ô chuồng và cửa phía trước để chuyển lợn ra khỏi ô chuồng nên độ rộng của lối đi cũng không cần rộng, thường thì sẽ nhỏ hơn độ rộng của cách cửa khi mở ra. Vì thế mà khi mở cửa ra, cửa đã chặn hết lối đi nên không cần công nhân để chột chặn nữa. Thậm chí, khi chuyển lợn, chỉ cần 1 công nhân cũng có thể vận hành được.
Thạc sỹ Nguyễn Văn Hùng
Giám đốc kỹ thuật bán hàng
Công ty Genesus, ĐT: 0918679012
Mail: hung@genesus.com
- lợn công nghiệp li>
- tiết kiệm chi phí xây dựng li>
- khâu thiết kế li>
- chuồng mang thai li> ul>
- Giống vịt CT1234 phù hợp điều kiện chăn nuôi tại Hải Phòng
- Bắc Ninh đẩy mạnh ứng dụng công nghệ vào chẩn đoán bệnh mới nổi và tái nổi ở gia súc
- 10 sai lầm phổ biến khi chống nóng cho gà
- Chăn nuôi gia cầm không kháng sinh: Đánh giá các giải pháp thay thế để tối ưu hóa năng suất và hiệu quả thức ăn
- “Khẩu phần ăn protein thấp” đem lại lợi ích cho vật nuôi và người chăn nuôi
- Giống gà NG15: Bước tiến mới trong chọn tạo giống gia cầm nội địa
- Lựa chọn dạng lysine tổng hợp tốt nhất: Phân tích & so sánh
- Ngành thú cưng lên ngôi: Doanh nghiệp chạy đua giành thị phần
- Độc tố nấm mốc và chất lượng trứng gia cầm
- Tình trạng phân lỏng trong chăn nuôi và những tác động kinh tế
Tin mới nhất
T7,13/06/2026
- Xuất khẩu thịt heo mang tín hiệu tích cực cho ngành nông nghiệp Argentina
- Vận hành tổ hợp gà thịt ứng dụng công nghệ Châu Âu tại Tây Ninh
- Gia Lai quyết tâm đưa chăn nuôi trở thành ngành kinh tế mũi nhọn
- Phát hiện vi rút Lở mồm long móng (LMLM) serotype A trên gia súc tại các tỉnh Cao Bằng và Thái Nguyên
- Trứng gà rớt giá, người nuôi lỗ nặng, bán lẻ giảm nhỏ giọt
- Vilico chốt giá chuyển nhượng dự án thịt bò Tam Đảo hơn 1.170 tỷ đồng cho công ty con
- UBND tỉnh Khánh Hòa ban hành đề án phát triển sản phẩm dê, cừu thành sản phẩm Halal
- Điện Biên khởi công trang trại chăn nuôi heo 120 tỷ đồng tại Mường Pồn
- Olmix Asialand Việt Nam và Boehringer Ingelheim trao tặng kho lạnh vaccine cho siêu trang trại gà DHN Tây Ninh 2
- Thúc đẩy hợp tác chiến lược: Hội Chăn nuôi Việt Nam làm việc tại Trường Đại học Tân Trào trước thềm Đại hội Quốc tế AAAP 21
- Chuyên gia bàn giải pháp sử dụng kháng sinh có kiểm soát trong chăn nuôi
- Ngành sữa Việt Nam: Cơ hội “bứt phá” từ nội lực
- Dịch tả heo châu Phi: Hiện trạng và giải pháp kiểm soát hiệu quả (Phần 1)
- Bộ NN&MT mở đợt ‘truy quét’ việc lạm dụng chất kích tăng trưởng, tăng trọng
- Cargill rút khỏi ngành thức ăn thủy sản tại Việt Nam, đóng cửa nhà máy tại Đồng Tháp và Long An
- Chăn nuôi dê bền vững theo chuỗi giá trị: Chủ nhà hàng là mắt xích quan trọng
- Da khỏe, lông đẹp: Chiến lược dinh dưỡng hiệu quả cho heo con sau cai sữa
- Lo ngại bệnh than, Campuchia ngừng nhập một số sản phẩm từ Thái Lan
- Cạn tiền, một công ty tại Nam Phi phải tiêu hủy hơn 350.000 con gà
- Bệnh Lymphoid Leukosis có triệu chứng như thế nào trên gà thịt lông màu?


























Bình luận mới nhất