Bản tin thị trường thịt trong nước và quốc tế tháng 12.2023 - Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam
    • Giá heo (lợn) hơi miền Bắc từ 57.000 - 58.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hà Nội, Hưng Yên 5.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi  Vĩnh Phúc 57.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Trung và Tây Nguyên từ 54.000 - 56.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Quảng Trị 54.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Nghệ An 56.000đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Quảng Ngãi 54.000đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Nam từ 52.000 - 56.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Đồng Nai 56.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Bến Tre 52.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Cà Mau 53.000 đ/kg
    •  
  • Bản tin thị trường thịt trong nước và quốc tế tháng 12.2023

    Trong năm 2023, ngành chăn nuôi lợn thế giới gặp nhiều thách thức do nguồn cung dồi dào, nhu cầu giảm khiến giá lợn có xu hướng giảm kể từ đầu tháng 7/2023 đến nay.

     

    Năm 2024, ngành chăn nuôi Việt Nam đặt mục tiêu tổng sản lượng thịt hơi các loại đạt trên 7,89 triệu tấn, tăng 3,8% so với năm 2023; sản lượng thịt lợn hơi đạt trên 4,87 triệu tấn tăng 4%; sản lượng thịt gia cầm đạt trên 2,31 triệu tấn tăng 3,1% so với năm 2023…

     

    Theo thống kê sơ bộ từ số liệu của Tổng cục Hải quan, trong 11 tháng năm 2023, xuất khẩu thịt và các sản phẩm thịt của Việt Nam tăng 22,4% về lượng và tăng 36,9% về trị giá so với cùng kỳ năm 2022; nhập khẩu tăng 6,1% về lượng, nhưng giảm 3,8% về trị giá so với cùng kỳ năm 2022.

     

    THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI

    Trong năm 2023, ngành chăn nuôi lợn thế giới gặp nhiều thách thức. Tốc độ giảm đàn lợn diễn ra ở nhiều quốc gia; giá thịt lợn từ đầu tháng 7/2023 đến nay liên tiếp giảm do nhu cầu nhập khẩu ở các nước châu Á chậm, trong khi nguồn cung ở một số nhà xuất khẩu dồi dào. Tại Trung Quốc, giá lợn hơi giảm do nguồn cung dồi dào, trong khi nhu cầu duy trì ở mức thấp, bất chấp các dịp nghỉ lễ đang đến gần.

     

    Các nhà sản xuất lợn Trung Quốc hầu như không kiếm được lợi nhuận trong năm nay, với nguồn cung cao hơn đáng kể so với một năm trước, trong khi nhu cầu duy trì ảm đạm. Trong tháng 12/2023, xu hướng giảm giá tiếp tục diễn ra trong 15 ngày đầu tháng, sau đó tăng nhẹ trở lại. Ngày 27/12/2023, giá lợn nạc tại Chicago, Hoa Kỳ giao kỳ hạn gần ở mức 69,98 UScent/lb, tăng 1,7% so với cuối tháng 11/2023, nhưng vẫn giảm 20,4% so với cùng kỳ năm 2022.

     

    Tại Trung Quốc, nguồn cung lợn dồi dào và mức tiêu thụ thấp do nền kinh tế chậm lại, khiến thị trường thịt lợn chịu áp lực, bất chấp nhu cầu cao điểm trong mùa Đông. Lượng thịt lợn nhập khẩu của Trung Quốc đang có xu hướng chậm lại trong mấy tháng gần đây do nhu cầu yếu.

     

    Theo số liệu của Cơ quan Hải quan Trung Quốc, trong 11 tháng năm 2023, Trung Quốc nhập khẩu 1,45 triệu tấn thịt lợn (HS 0203), với trị giá 3,3 tỷ USD, giảm 6,1% về lượng và giảm 1,2% về trị giá so với cùng kỳ năm 2022. Các thị trường cung cấp thịt lợn lớn nhất cho Trung Quốc trong 11 tháng năm 2023 gồm: Bra-xin, Tây Ban Nha, Ca-na-đa, Hoa Kỳ, Hà Lan, Đan Mạch… Trừ Tây Ban Nha và Đan Mạch, lượng thịt lợn nhập khẩu của Trung Quốc từ các thị trường này đều tăng khá so với cùng kỳ năm 2022. Trong đó, Bra-xin là thị trường lớn nhất cung cấp thịt lợn cho Trung Quốc, chiếm 26,02% trong tổng lượng thịt lợn nhập khẩu của Trung Quốc trong 11 tháng năm 2023, với 377,36 nghìn tấn, trị giá 943,26 triệu USD, tăng 0,2% về lượng và tăng 6,6% về trị giá so với cùng kỳ năm 2022.

     

    Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA), năm 2024, sản lượng thịt lợn của EU được dự báo đạt khoảng 21,2 triệu tấn, giảm 2% so với năm 2023. Đàn lợn nái của EU giảm trong năm 2023 và được dự báo tiếp tục giảm 1% trong năm 2024, đạt 10,3 triệu con. Trong khi, sản lượng thịt lợn của Trung Quốc được dự báo giảm 1% trong năm 2024. Trái lại, sản lượng của Bra-xin được dự báo tăng 5%; Sản lượng của Việt Nam được dự báo sẽ tăng 5%, đạt 3,7 triệu tấn.

     

    Năm 2024, xuất khẩu thịt lợn toàn cầu được dự báo đạt 10,4 triệu tấn, tăng 2% so với năm 2023 do xuất khẩu của Bra-xin tiếp tục tăng tới các thị trường EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản và Me-xi-co. Xuất khẩu của Anh được dự báo sẽ tăng 9% do giá đầu vào thấp hơn, dẫn đến nguồn cung lớn hơn để xuất khẩu sang EU và Trung Quốc. Nhập khẩu thịt lợn toàn cầu được dự báo sẽ tăng 1% vào năm 2024, nhờ nhập khẩu từ thị trường Hồng Công, Trung Quốc và Nhật Bản tăng, bù đắp cho mức nhập khẩu thấp hơn từ thị trường Đài Loan và Anh.

     

    Trong khi đó, các nhà phân tích của Rabobank dự báo sản lượng thịt lợn của EU sẽ giảm 3% trong năm 2024, mức giảm chậm lại so với hai năm trước. Tỷ suất lợi nhuận tích cực trở lại nhờ giá đạt kỷ lục và chi phí thức ăn giảm đã làm chậm đà giảm của đàn lợn nái tại 8 quốc gia sản xuất lợn chính của EU. Tại Anh, mức tăng trưởng dự kiến ở mức 2% do sản lượng sản xuất cao hơn vào nửa cuối năm 2023. Sản lượng thịt lợn của Bra-xin được dự báo sẽ tăng 3 – 4% vào năm 2024, xuất khẩu thịt lợn của Bra-xin dự đoán sẽ tăng 2-4% nhờ nhập khẩu tăng nhẹ tại Trung Quốc và các nơi khác trong năm 2024. Ngược lại, đàn lợn ở Bắc Mỹ dự kiến sẽ ghi nhận sự giảm nhẹ vào năm tới, do giá lợn tiếp tục giảm trong khi chi phí ngày càng cao. Rabobank dự báo sản lượng thịt lợn ở Bắc Mỹ giảm 0,6%, do sản lượng của Hoa Kỳ và Ca-na-da sụt giảm, tuy nhiên sản lượng thịt lợn của Me-xi-co sẽ tăng 1,6%. Xuất khẩu thịt lợn của Hoa Kỳ dự kiến sẽ tăng thêm 3% so với năm 2023.

     

    THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC

    Năm 2023, giá lợn hơi khá đồng nhất so với năm 2022 về xu hướng biến động theo tháng kể từ tháng 3 và giá lợn hơi xuất chuồng năm 2023 luôn thấp hơn giá năm 2022 (ngoại trừ tháng 6/2023). Nguyên nhân chính của sự sụt giảm vẫn là sức mua trên thị trường chưa có dấu hiệu phục hồi. Nhu cầu thực phẩm của người dân giảm nhẹ so với trước đây do thu nhập của người dân bị ảnh hưởng. Sức tiêu thụ thực phẩm của các khu công nghiệp giảm mạnh do nhiều công ty giảm quy mô sản xuất do thiếu đơn đặt hàng. Đến thời điểm này, tình hình chăn nuôi của các doanh nghiệp, trang trại vẫn khá ổn định. Với tỷ lệ đàn lợn hiện có, cơ bản đáp ứng được yêu cầu tiêu thụ thịt lợn và các sản phẩm từ thịt lợn của thị trường từ nay đến Tết nguyên đán Giáp Thìn.

     

    Tháng 12/2023, giá lợn hơi trên cả nước biến động nhẹ, giá tăng tại một số tỉnh miền Bắc, trong khi tại miền Trung và miền Nam giá giảm nhẹ, trong bối cảnh sức mua trên thị trường vẫn chưa có dấu hiệu hồi phục. Hiện giá khảo sát ở các tỉnh, thành phố dao động trong khoảng 48.000-52.000 đồng/ kg. Cụ thể, hiện giá lợn hơi tại khu vực miền Bắc dao động trong khoảng 50.000-52.000 đồng/kg, tăng 1.000-2.000 đồng/kg so với cuối tháng trước. Trong khi đó, giá lợn hơi miền Trung, Tây Nguyên dao động trong khoảng 48.000-50.000 đồng/kg, giảm 1.000 đồng/kg so với cuối tháng trước. Giá lợn hơi tại khu vực miền Nam hiện dao động trong khoảng 48.000-52.000 đồng/kg, giảm 1.000 đồng/ kg so với cuối tháng trước.

     

    Năm 2023, nhìn chung tình hình chăn nuôi trâu, bò khá ổn định về tổng đàn, không có biến động lớn; chăn nuôi lợn có kết quả tích cực mặc dù vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn do giá lợn hơi thấp, chi phí đảm bảo chăn nuôi an toàn sinh học và phòng dịch cao, giá thức ăn chăn nuôi theo xu hướng giảm (từ thời điểm tháng 6/2023 đến nay đã có khoảng 6 đợt giảm giá) nhưng chưa đáng kể và vẫn ở mức cao; chăn nuôi gia cầm tiếp tục tăng do khu vực hộ và doanh nghiệp đều phát triển ổn định.

     

    Theo ước tính của Cục Chăn nuôi, năm 2023, tổng đàn lợn cả nước ước đạt 30,3 triệu con, tăng 4,2% so với năm 2022; đàn trâu đạt 2,2 triệu con, giảm 1,0%; đàn bò đạt 6,4 triệu con tăng 1,0%; đàn gia cầm đạt 558,6 triệu con, tăng 2,6% so với năm 2022. Ước tính năm 2023, tổng sản lượng thịt hơi các loại đạt trên 7,6 triệu tấn, tăng 3,5% so với năm 2022 (trong đó thịt lợn hơi 4,68 triệu tấn; thịt gia cầm đạt 2,24 triệu tấn; thịt trâu, bò đạt 0,63 triệu tấn và khoảng 50 nghìn tấn thịt dê, cừu các loại). Năm 2024, ngành chăn nuôi đặt mục tiêu tổng sản lượng thịt hơi các loại đạt trên 7,89 triệu tấn, tăng 3,8% so với năm 2023; sản lượng thịt lợn hơi đạt trên 4,87 triệu tấn tăng 4%; sản lượng thịt gia cầm đạt trên 2,31 triệu tấn tăng 3,1% so với năm 2023…

     

    TÌNH HÌNH XUẤT, NHẬP KHẨU THỊT VÀ CÁC SẢN PHẨM TỪ THỊT CỦA VIỆT NAM

    Về xuất khẩu: Theo thống kê sơ bộ từ số liệu của Tổng cục Hải quan Việt Nam, trong 11 tháng năm 2023, Việt Nam xuất khẩu được 20,3 nghìn tấn thịt và các sản phẩm thịt, trị giá 100,26 triệu USD, tăng 22,4% về lượng và tăng 36,9% về trị giá so với cùng kỳ năm 2022. Thịt và sản phẩm thịt của Việt Nam được xuất khẩu chủ yếu sang các thị trường thuộc khu vực châu Á, trong đó xuất khẩu sang thị trường Hồng Công là nhiều nhất, chiếm 43,35% về lượng và chiếm 54,54% về trị giá trong tổng xuất khẩu thịt và các sản phẩm thịt của cả nước với 8,8 nghìn tấn, trị giá 54,68 triệu USD, tăng 29,9% về lượng và tăng 48,4% về trị giá so với cùng kỳ năm 2022. Thịt và các sản phẩm thịt của Việt Nam được xuất khẩu sang thị trường Hồng Công chủ yếu là thịt lợn sữa nguyên con đông lạnh, thịt lợn nguyên con đông lạnh…

     

    Trong 11 tháng năm 2023, các chủng loại thịt và các sản phẩm từ thịt xuất khẩu chủ yếu gồm: Thịt lợn tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh (chủ yếu là thịt lợn sữa nguyên con đông lạnh và thịt lợn nguyên con đông lạnh) được xuất khẩu sang thị trường Hồng Công, Ma-lai-xi-a, Pa-pu-a Niu Ghi-nê, Lào; Thịt khác và phụ phẩm dạng thịt ăn được sau giết mổ của động vật khác, tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh (chủ yếu là thịt ếch đông lạnh) được xuất khẩu chủ yếu sang Bỉ, Pháp, Hoa Kỳ, Ca-na-da…; Thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của gia cầm tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh (chủ yếu là chân gà đông lạnh) được xuất khẩu chủ yếu sang Trung Quốc, Pa-pu-a Niu Ghi-nê. Đáng chú ý, trừ thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của gia cầm, xuất khẩu các chủng loại thịt và các sản phẩm từ thịt trên đều tăng mạnh so với cùng kỳ năm 2022.

     

    Trong đó, thịt lợn tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh được xuất khẩu nhiều nhất. 11 tháng năm 2023, xuất khẩu thịt lợn tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh đạt 9,9 nghìn tấn, trị giá 57,85 triệu USD, tăng 4,6% về lượng và tăng 29,2% về trị giá so với cùng kỳ năm 2022. Trong đó xuất khẩu sang thị trường Hồng Công chiếm 87,43% về lượng và chiếm 93,8% về trị giá trong tổng xuất khẩu thịt lợn tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh của cả nước.

     

    Thời gian qua, xuất khẩu thịt và các sản phẩm từ thịt của Việt Nam còn chưa tương xứng với sản lượng sản xuất hàng năm. Hiện nay, lượng thịt lợn xuất khẩu vẫn còn đang quá nhỏ so với tổng sản lượng xuất chuồng. Sản phẩm xuất khẩu chủ yếu vẫn là lợn sữa và lợn choai sang thị trường Hồng Công mà không phải các sản phẩm có thể sản xuất quy mô lớn như đông lạnh hay thịt tươi.

     

    Về nhập khẩu: Nhập khẩu thịt và các sản phẩm từ thịt của Việt Nam tăng trong 11 tháng năm 2023. Thời điểm hiện tại, nguồn cung, giá thịt và các sản phẩm từ thịt vẫn cơ bản ổn định, trong khi nhu cầu chậm. Theo tính toán từ số liệu của Tổng cục Hải quan Việt Nam, 11 tháng năm 2023, Việt Nam nhập khẩu 652,15 nghìn tấn thịt và sản phẩm từ thịt, trị giá 1,3 tỷ USD, tăng 6,1% về lượng, nhưng giảm 3,8% về trị giá so với cùng kỳ năm 2022.

    Trong 11 tháng năm 2023, thịt và các sản phẩm từ thịt được nhập khẩu từ 57 thị trường trên thế giới. Trong đó, Ấn Độ, Hoa Kỳ, Nga, Bra-xin và Hàn Quốc là 5 thị trường lớn nhất cung cấp thịt và sản phẩm từ thịt cho Việt Nam. Trong đó, Ấn Độ là thị trường lớn nhất cung cấp thịt và sản phẩm từ thịt cho Việt Nam với 144,89 nghìn tấn, trị giá 426,93 triệu USD, tăng 2,1% về lượng, nhưng giảm 6,2% về trị giá so với cùng kỳ năm 2022.

     

    Trong 11 tháng năm 2023, thịt và các sản phẩm từ thịt nhập khẩu chủ yếu là các chủng loại như: Thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của gia cầm; Phụ phẩm ăn được sau giết mổ của lợn, trâu, bò sống; Thịt trâu tươi đông lạnh; Thịt lợn tươi đông lạnh; Thịt bò tươi đông lạnh… Trong đó, nhập khẩu thịt gia cầm, thịt bò có xu hướng giảm; trong khi nhập khẩu thịt trâu, thịt lợn và phụ phẩm sau khi giết mổ của trâu, bò, lợn lại có xu hướng tăng so với cùng kỳ năm 2022.

    Trong 11 tháng năm 2023, Việt Nam nhập khẩu 105 nghìn tấn thịt lợn (HS 0203), trị giá 262,36 triệu USD, tăng 4,1% về lượng và tăng 21,6% về trị giá so với cùng kỳ năm 2022. Thịt lợn được nhập khẩu từ 30 thị trường trên thế giới. Trong đó, Nga, Bra-xin, Đức, Tây Ban Nha và Ca-na-đa là 5 thị trường lớn nhất cung cấp thịt lợn cho Việt Nam; trừ Nga, nhập khẩu thịt lợn từ các thị trường này đều giảm so với cùng kỳ năm 2022. Trong 11 tháng năm 2023, Nga là thị trường lớn nhất cung cấp thịt lợn cho Việt Nam với 43,05 nghìn tấn, trị giá 120,56 triệu USD, tăng 80% về lượng và tăng 95,2% về trị giá so với cùng kỳ năm 2022.

     

    Trong những ngày tới, nhu cầu tiêu thụ thịt và các sản phẩm từ thịt dự kiến sẽ tăng do nhu cầu thực phẩm trong dịp lễ Tết tăng cao. Tuy nhiên, do nguồn cung thịt của Việt Nam khá dồi dào, cơ bản đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ trong nước, nên dự báo nhập khẩu thịt và các sản phẩm thịt sẽ không tăng đột biến trong thời gian tới.

     

    Nguồn: Bản tin thị trường Nông, Lâm, Thủy sản số tháng 11.2023

    Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công thương

    Để lại comment của bạn

    Bình luận mới nhất

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Theo UBND xã Minh Châu – Ba Vì – Hà Nội, xác định lợi thế về đất đai, khí hậu nên những năm qua đã đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp là chính, trong đó xã tập trung đến phát triển chăn nuôi bò sinh sản, bò thịt. […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Trong bối cảnh bệnh Dịch tả lợn châu Phi (DTLCP) đã xảy ra tại TP Hồ Chí Minh, thành phố càng nỗ lực thực hiện các biện pháp kiểm soát chăn nuôi, giết mổ và tiêu thụ gắt gao. Hơn nữa, khảo sát một đêm tại thị trường […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Anh Trần Văn Toản, ở khu vực Bình Yên B, phường Long Hòa, quận Bình Thủy, TP. Cần Thơ là người đầu tiên ở Đồng bằng sông Cửu Long mở trang trại nuôi chim công rất thành công mà cho thu nhập hơn 200 triệu đồng/năm.   1/ […]

    • Giống chim này có khả năng thích ứng cao với điều kiện khí hậu ở nước ta, tỷ lệ nuôi sống đạt 94-99%.

    • Để đàn gà sinh trưởng phát triển tốt có tỷ lệ sống cao cần thực hiện tốt kỹ thuật úm gà con

    • Việt Nam cùng với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ… là những nước đã nuôi trồng thành công đông trùng hạ thảo.

    • Gà vảy cá được mệnh danh là “mỹ kê” đã được nhiều đại gia Việt sẵn sàng chi tiền triệu để hữu cặp gà vảy cá đẹp.

    • Cừu chính là loài vật nuôi thích hợp với những điều kiện khắc nghiệt của vùng đất Ninh Thuận.

    • Nghề nuôi chim cút đẻ hiện đang phổ biến ở rất nhiều hộ gia đình tại các địa phương và mang lại hiệu quả kinh tế khá.

    • Tỉnh Phú Thọ với địa hình đa dạng: nhiều gò, đồi thấp, dải đồng bằng thuận lợi cho chăn nuôi, trong đó, có chăn nuôi gà lông màu.