Bản tin thị trường ngành thịt trong nước và thế giới tháng 5.2026 - Chăn nuôi Việt Nam
    • Giá heo (lợn) hơi miền Bắc từ 60.000 - 70.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hà Nội 69.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hưng Yên 70.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Trung và Tây Nguyên từ 68.000 - 72.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Quảng Trị 70.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Thanh Hóa 68.000đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Lâm Đồng 72.000đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Nam từ 69.000 - 72.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Đồng Nai 72.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Cà Mau 70.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Đồng Tháp 71.000 đ/kg
    •  
  • Bản tin thị trường ngành thịt trong nước và thế giới tháng 5.2026

    Trong 4 tháng đầu năm 2026, giá lợn hơi trong nước duy trì xu hướng tăng, dao động trong khoảng 66.000 – 71.000 đồng/kg, trong khi đó, xuất khẩu thịt và các sản phẩm thịt giảm 20,8% về lượng, nhưng tăng 2,9% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.

     

    THỊ TRƯỜNG THỊT THẾ GIỚI

     

    Nguồn cung tăng nhẹ, thương mại toàn cầu dịch chuyển

     

    Theo dự báo mới nhất của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA), sản lượng thịt lợn toàn cầu sẽ tăng nhẹ trong năm 2026 lên mức 120, 2 triệu tấn, nhờ sự tăng trưởng sản lượng tại Hoa Kỳ, Brazil, Trung Quốc và Canada, trong khi Dịch tả lợn châu Phi (ASF) tại Tây Ban Nha sẽ tiếp tục gây áp lực làm giảm sản lượng và xuất khẩu của Liên minh châu Âu.

     

    Xuất khẩu thịt lợn toàn cầu dự kiến gần như không thay đổi, duy trì ở mức 10,4 triệu tấn, với mức tăng lớn nhất đến từ Brazil, Hoa Kỳ và Canada. Trong khi đó, nhập khẩu thịt lợn toàn cầu dự kiến đạt 9,3 triệu tấn trong năm 2026, tăng 0,9% so với năm 2025.

     

    Trong đó, nhập khẩu thịt lợn của Trung Quốc dự kiến giảm đáng kể trong năm 2026 do nguồn cung nội địa dồi dào, buộc các nước xuất khẩu lớn phải tiếp tục tìm kiếm cơ hội tại các thị trường khác. Hoa Kỳ sẽ tiếp tục củng cố định hướng chuyển dịch sang Mê-hi-cô và khu vực Trung Mỹ, những thị trường đã tăng tỷ trọng từ 25% lên 46% trong tổng trị giá xuất khẩu thịt lợn của Hoa Kỳ giai đoạn 2020-2025. Trong khi đó, EU và Bra-xin sẽ tiếp tục đẩy mạnh định hướng xuất khẩu sang các thị trường châu Á bị ảnh hưởng bởi Dịch tả lợn châu Phi như Phi-líp-pin, Hàn Quốc và thị trường Đài Loan.

     

    Dự báo tại các thị trường trọng điểm

     

    – Trung Quốc dự kiến sản xuất 59,5 triệu tấn thịt lợn trong năm 2026, tăng nhẹ 0,2% so với năm 2025. Ngược lại, khối lượng nhập khẩu được dự báo giảm 15,8%, xuống còn 1,0 triệu tấn, khi sự phục hồi của sản xuất nội địa làm giảm nhu cầu nhập khẩu xuống dưới mức trước thời điểm bùng phát Dịch tả lợn châu Phi.

     

    – Sản lượng thịt lợn của EU dự kiến giảm 1,2% trong năm 2026, còn 21,7 triệu tấn, do biên lợi nhuận sản xuất thu hẹp và tác động từ Dịch tả lợn châu Phi được phát hiện tại Tây Ban Nha vào cuối năm 2025. Xuất khẩu của khu vực này cũng được dự báo giảm 7,6%, xuống 2,8 triệu tấn.

     

    – Năm 2026, Hoa Kỳ dự kiến tăng sản lượng thịt thêm 1,4%, đạt 12,7 triệu tấn, động lực chính đến từ việc tăng số lợn con trên mỗi ổ đẻ dù đàn nái sinh sản giảm. Xuất khẩu cũng được dự báo tăng 3,3%, đạt 3,3 triệu tấn, nhờ nhu cầu mạnh từ Mê-hi-cô và Trung Mỹ, cũng như cơ hội xuất khẩu phát sinh từ việc nguồn cung của châu Âu giảm tại các thị trường châu Á trọng điểm.

     

    – Bra-xin dự kiến tăng sản lượng thêm 3,2% trong năm 2026, đạt 4,9 triệu tấn, nhờ nguồn nguyên liệu thức ăn dồi dào và nhu cầu quốc tế mạnh mẽ. Xuất khẩu cũng được dự báo đạt 1,8 triệu tấn, tăng 6,8% so với năm 2025, trong đó châu Á tiếp tục là thị trường tiêu thụ chính.

     

    – Việt Nam dự kiến đạt sản lượng 4,1 triệu tấn trong năm 2026, tăng 3,9% so với năm trước. Nhập khẩu ước tính khoảng 120.000 tấn, giảm 20,5% so với năm 2025.

     

    – Nhật Bản sẽ tiếp tục là một trong những nước nhập khẩu thịt lợn lớn nhất thế giới trong năm 2026 với 1,4 triệu tấn, thấp hơn 0,3% so với ước tính năm 2025.

     

    – Mê-hi-cô dự kiến tăng sản lượng thêm 2,9%, đạt khoảng 1,4 triệu tấn trong năm 2026. Mê-hi-cô sẽ tiếp tục là thị trường nhập khẩu thịt lợn lớn nhất thế giới và khu vực Mỹ Latinh với 1,7 triệu tấn, tăng 3,9% so với năm 2025.

     

    – Ca-na-đa dự kiến tăng sản lượng thêm 2,1% trong năm 2026, đạt 2,2 triệu tấn, trong khi xuất khẩu tăng 3,8%, đạt 1,4 triệu tấn.

     

    – Cô-lôm-bi-a tiếp tục nằm trong nhóm thị trường nhập khẩu đáng chú ý, dự báo đạt 210.000 tấn trong năm 2026, tăng 2,4% so với năm 2025.

     

    THỊ TRƯỜNG THỊT TRONG NƯỚC

     

    Trong tháng 5/2026, giá lợn hơi trong nước có xu hướng tăng so với tháng 4/2026, dao động trong khoảng 66.000 – 71.000 đồng/kg. Cụ thể:

     

    Cuối tháng 5/2026, giá lợn hơi tại khu vực miền Bắc dao động trong khoảng 66.000 – 70.000 đồng/kg, tăng từ 1.000 – 4.000 đồng/kg so với tháng 4/2026.

     

    Giá lợn hơi tại khu vực miền Trung và Tây Nguyên dao động trong khoảng 68.000 – 69.000 đồng/kg, tăng từ 1.000 – 3.000 đồng/kg so với tháng 4/2026.

     

    Giá lợn hơi tại khu vực miền Nam dao động trong khoảng 69.000 – 71.000 đồng/kg, tăng từ 1.000 – 2.000 đồng/kg so với tháng 4/2026.

     

    Diễn biến giá lợn hơi trong nước từ đầu tháng 01/2025 đến nay

    (Đơn vị tính: nghìn đồng)

    Nguồn: Trung tâm Công nghiệp và thương mại tổng hợp

     

    TÌNH HÌNH XUẤT, NHẬP KHẨU THỊT VÀ CÁC SẢN PHẨM TỪ THỊT CỦA VIỆT NAM

     

    Tình hình xuất khẩu

     

    Theo thống kê sơ bộ từ số liệu của Cục Hải quan, 4 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu 5,7 nghìn tấn thịt và các sản phẩm thịt, trị giá 40,8 triệu USD, giảm 20,8% về lượng, nhưng tăng 2,9% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.

     

    Trong 4 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu thịt và các sản phẩm thịt sang 25 thị trường. Trong đó, Hồng Công vẫn là thị trường xuất khẩu thịt và các sản phẩm thịt lớn nhất của Việt Nam, chiếm 37,25% về lượng và chiếm 46,4% về trị giá trong tổng xuất khẩu thịt và các sản phẩm thịt của cả nước, đạt 2,1 nghìn tấn, trị giá 18,93 triệu USD, giảm 41,6% về lượng và giảm 24,7% về trị giá so với 4 tháng đầu năm 2025. Thịt lợn sữa nguyên con đông lạnh và thịt lợn nguyên con đông lạnh vẫn là những sản phẩm xuất khẩu chủ yếu sang thị trường Hồng Công.

     

    Xuất khẩu thịt và các sản phẩm thịt của Việt Nam sang một số thị trường khác giảm về lượng và trị giá như Ca-na-đa, Ma-lai-xi-a, Hàn Quốc, Tây Ban Nha, Li-băng… so với cùng kỳ năm 2025.

     

    Trái lại, xuất khẩu thịt và các sản phẩm thịt sang các thị trường trong 4 tháng đầu năm 2026 tăng trưởng tốt về lượng và trị giá so với cùng kỳ năm 2025 như Trung Quốc, Pháp, Xin-ga-po, Hoa Kỳ, Căm-pu-chia…

     

    Cơ cấu thị trường xuất khẩu thịt và sản phẩm thịt của Việt Nam

     (Tỷ trọng % tính theo trị giá)

     

    Trong 4 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu thịt và các sản phẩm từ thịt của Việt Nam chủ yếu vẫn gồm các chủng loại như: Thịt lợn tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 40,29% về lượng và chiếm 50,24% về trị giá; Thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ, của gia cầm thuộc nhóm 01.05 tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 38,62 về lượng và chiếm 30,8% về trị giá; Thịt khác và phụ phẩm dạng thịt ăn được sau giết mổ của động vật khác tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 20,5% về lượng và chiếm 16,69% về trị giá; Các chủng loại khác chiếm 0,58% về lượng và chiếm 2,28% về trị giá trong tổng xuất khẩu thịt và các sản phẩm từ thịt của Việt Nam.

     

    Trong đó, thịt lợn tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh vẫn là chủng loại được xuất khẩu nhiều nhất, đạt 2,3 nghìn tấn, trị giá 20,5 triệu USD, giảm 24,6% về lượng và giảm 12,7% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025, trong đó xuất khẩu tới thị trường chủ yếu là Hồng Công giảm 28,2% về lượng và giảm 18,5% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.

     

    Tình hình nhập khẩu

     

    Theo thống kê sơ bộ từ số liệu của Cục Hải quan, 4 tháng đầu năm 2026, Việt Nam nhập khẩu 313,07 nghìn tấn thịt và các sản phẩm từ thịt, trị giá 928,83 triệu USD, tăng 11,2% về lượng và tăng 37,6% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.

     

    Trong 4 tháng đầu năm 2026, Ấn Độ tiếp tục là thị trường cung cấp thịt và các sản phẩm từ thịt lớn nhất cho Việt Nam, chiếm 23,78% trong tổng lượng nhập khẩu của cả nước, đạt 74,4 nghìn tấn, trị giá 310,11 triệu USD, tăng 31,6% về lượng và tăng 59,4% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Nhập khẩu thịt và các sản phẩm từ thịt từ một số thị trường cung cấp khác cũng tăng trưởng so với cùng kỳ năm 2025 như: Hoa Kỳ, Ca-na-đa, Tây Ban Nha, Đức, Thổ Nhĩ Kỳ, Ý, Xlô-vê-ni-a…Tuy nhiên, nhập khẩu thịt và các sản phẩm từ thịt giảm so với cùng kỳ năm 2025 từ một số thị trường như: Nga, Hàn Quốc, Ba Lan, Ác-hen-ti-na, I-ran, Bỉ…

     

    Cơ cấu thị trường cung cấp thịt và các sản phẩm từ thịt cho Việt Nam
    (Tỷ trọng % tính theo lượng)

     

    Trong 4 tháng đầu năm 2026, các chủng loại thịt Việt Nam nhập khẩu chủ yếu gồm: Thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ, của gia cầm thuộc nhóm 01.05, tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 37,27% về lượng và chiếm 13% về trị giá; Thịt trâu tươi đông lạnh chiếm 22,17% về lượng và chiếm 31,9% về trị giá; Thịt lợn tươi ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 13,77% về lượng và chiếm 10,02% về trị giá; Phụ phẩm ăn được sau giết mổ của lợn, trâu, bò sống ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 15,47% về lượng và chiếm 7,16% về trị giá; Thịt bò tươi ướp lạnh hoặc đông lạnh chiếm 6,38% về lượng và chiếm 13,84% về trị giá; Các mặt hàng khác chiếm 4,94% về lượng và chiếm 2,2% về trị giá trong tổng nhập khẩu thịt 4 tháng đầu năm 2026.

     

    4 tháng đầu năm 2026, nhập khẩu thịt lợn tươi ướp lạnh hoặc đông lạnh về Việt Nam đạt 43,1 nghìn tấn, với trị giá 93,11 triệu USD, giảm 3,6% về lượng và giảm 21,7% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Giá trung bình nhập khẩu thịt lợn tươi ướp lạnh hoặc đông lạnh về Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2026 ở mức 2.143 USD/ tấn, giảm 19,3% so với cùng kỳ năm 2025.

     

    Trong 4 tháng đầu năm 2026, Việt Nam nhập khẩu thịt lợn từ 17 thị trường, trong đó Nga vẫn là thị trường cung cấp lớn nhất, chiếm 32,56% tổng lượng thịt lợn nhập khẩu của cả nước; Tiếp theo là Bra-xin chiếm 19,18%; Tây Ban Nha chiếm 29,43%; Đức chiếm 7,4%; Hà Lan chiếm 3,03%; Các thị trường khác chiếm 8,41%.

     

    Theo dự báo của USDA, xuất khẩu thịt và các sản phẩm thịt của Việt Nam giảm 20,8% về lượng, nhưng tăng 2,9% về trị giá; Nhập khẩu thịt và các sản phẩm từ thịt tăng 11,2% về lượng và tăng 37,6% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025, củng cố vị thế là một trong những quốc gia sản xuất thịt lợn lớn tại khu vực châu Á.

     

    Cơ cấu thị trường cung cấp thịt và các sản phẩm từ thịt cho Việt Nam
    (Tỷ trọng % tính theo lượng)

     

    Nguồn: Bản tin thị trường nông-lâm-thủy sản, Bộ Công thương

    Để lại comment của bạn

    Bình luận mới nhất

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Theo UBND xã Minh Châu – Ba Vì – Hà Nội, xác định lợi thế về đất đai, khí hậu nên những năm qua đã đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp là chính, trong đó xã tập trung đến phát triển chăn nuôi bò sinh sản, bò thịt. […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Trong bối cảnh bệnh Dịch tả lợn châu Phi (DTLCP) đã xảy ra tại TP Hồ Chí Minh, thành phố càng nỗ lực thực hiện các biện pháp kiểm soát chăn nuôi, giết mổ và tiêu thụ gắt gao. Hơn nữa, khảo sát một đêm tại thị trường […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Anh Trần Văn Toản, ở khu vực Bình Yên B, phường Long Hòa, quận Bình Thủy, TP. Cần Thơ là người đầu tiên ở Đồng bằng sông Cửu Long mở trang trại nuôi chim công rất thành công mà cho thu nhập hơn 200 triệu đồng/năm.   1/ […]

    • Giống chim này có khả năng thích ứng cao với điều kiện khí hậu ở nước ta, tỷ lệ nuôi sống đạt 94-99%.

    • Để đàn gà sinh trưởng phát triển tốt có tỷ lệ sống cao cần thực hiện tốt kỹ thuật úm gà con

    • Việt Nam cùng với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ… là những nước đã nuôi trồng thành công đông trùng hạ thảo.

    • Gà vảy cá được mệnh danh là “mỹ kê” đã được nhiều đại gia Việt sẵn sàng chi tiền triệu để hữu cặp gà vảy cá đẹp.

    • Cừu chính là loài vật nuôi thích hợp với những điều kiện khắc nghiệt của vùng đất Ninh Thuận.

    • Nghề nuôi chim cút đẻ hiện đang phổ biến ở rất nhiều hộ gia đình tại các địa phương và mang lại hiệu quả kinh tế khá.

    • Tỉnh Phú Thọ với địa hình đa dạng: nhiều gò, đồi thấp, dải đồng bằng thuận lợi cho chăn nuôi, trong đó, có chăn nuôi gà lông màu.