IPVS 2026: Cơ hội cập nhật và kết nối tại Hội nghị ngành heo lớn nhất thế giới - Chăn nuôi Việt Nam
    • Giá heo (lợn) hơi miền Bắc từ 60.000 - 70.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hà Nội 69.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hưng Yên 70.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Trung và Tây Nguyên từ 68.000 - 72.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Quảng Trị 70.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Thanh Hóa 68.000đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Lâm Đồng 72.000đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Nam từ 69.000 - 72.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Đồng Nai 72.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Cà Mau 70.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Đồng Tháp 71.000 đ/kg
    •  
  • IPVS 2026: Cơ hội cập nhật và kết nối tại Hội nghị ngành heo lớn nhất thế giới

    [Chăn nuôi Việt Nam] – Hội nghị Khoa học Chăn nuôi Thú y Thế giới về Heo lần thứ 28 (IPVS – International Pig Veterinary Society) sẽ chính thức diễn ra trong 4 ngày, từ 16 – 19/6/2026, tại Trung tâm Hội nghị ThiskyHall (KĐT Sala, số 10 Mai Chí Thọ, phường An Lợi Đông, TP. Hồ Chí Minh). Đây là sự kiện khoa học quốc tế uy tín, được tổ chức định kỳ 2 năm một lần tại các quốc gia trên thế giới trong suốt 56 năm qua. Đặc biệt, năm 2026 đánh dấu lần đầu tiên Việt Nam vinh dự đăng cai tổ chức, với đơn vị chủ trì là Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh.

    Ban tổ chức Hội nghị Khoa học Chăn nuôi Thú y Thế giới về Heo lần thứ 28 tổ chức sự kiện gặp mặt Nhà tài trợ lần thứ 3

     

    Việc trở thành nước chủ nhà của một hội nghị khoa học quy mô toàn cầu như IPVS là kết quả của quá trình chuẩn bị và vận động kéo dài nhiều năm. Các quốc gia đăng cai phải đáp ứng những tiêu chí khắt khe về năng lực tổ chức, nguồn lực tài chính, cơ sở hạ tầng và kinh nghiệm triển khai các sự kiện quốc tế lớn. Đồng thời, đơn vị chủ trì cũng cần có nền tảng nghiên cứu khoa học vững chắc và tầm ảnh hưởng rộng trong cộng đồng ngành chăn nuôi heo trong nước và quốc tế. Hội nghị dự kiến thu hút tối thiểu 3.000 đại biểu trong và ngoài nước tham dự.

     

    Tính đến giữa tháng 2/2026, các công tác chuẩn bị cơ bản đã được hoàn thiện. Trong khoảng 100 ngày tiếp theo, ban tổ chức sẽ tiếp tục hoàn tất những khâu cuối cùng, sẵn sàng đón tiếp các nhà khoa học, chuyên gia và doanh nghiệp đến tham dự sự kiện quan trọng này tại TP.HCM.

     

    Không chỉ là diễn đàn học thuật đẳng cấp quốc tế, IPVS 2026 còn mở ra cơ hội để đại biểu kết hợp tham quan, du lịch và trải nghiệm văn hóa Việt Nam. Từ TP.HCM, du khách có thể dễ dàng di chuyển đến nhiều điểm đến hấp dẫn trong bán kính 100-500 km. Các lựa chọn du lịch biển gần như Cần Giờ, Vũng Tàu, Long Hải hay Mũi Né (Bình Thuận) chỉ cách thành phố khoảng 2-3 giờ di chuyển. Xa hơn là các điểm đến nổi tiếng như Phú Quốc, Côn Đảo, nơi du khách có thể tham gia các tour trải nghiệm độc đáo như xem rùa biển đẻ trứng. Bên cạnh đó, khu vực Tây Nguyên với các tỉnh Lâm Đồng, Đắk Nông, Đắk Lắk, Gia Lai cũng mang đến những hành trình khám phá thiên nhiên và văn hóa đặc sắc.

     

    Trong khuôn khổ 4 ngày diễn ra hội nghị, từ 16 đến 19/6/2026, IPVS 2026 sẽ bao gồm nhiều nội dung chuyên môn và hoạt động phong phú. Chương trình chi tiết sẽ được sắp xếp theo từng ngày, giúp đại biểu dễ dàng lựa chọn các phiên thảo luận và hoạt động phù hợp với lĩnh vực quan tâm, đồng thời chủ động xây dựng lịch trình tham dự hiệu quả.

     

    Ngày thứ nhất của Hội nghị, 16/06/2026: Hội nghị IPVS 2026 sẽ bắt đầu từ giữa buổi chiều với phiên toàn thể (Plenary Session), gồm hai báo cáo quan trọng do Sanipa Suradhat (Đại học Chulalongkorn, Thái Lan) và Derald Holtkamp (Đại học Bang Iowa, Hoa Kỳ) trình bày, tập trung vào phát triển vaccine thế hệ mới và các chiến lược an toàn sinh học trong chăn nuôi heo.

     

    Ngôn ngữ chính thức của hội nghị là tiếng Anh. Đồng thời, Ban Tổ chức bố trí phiên dịch song song tại hầu hết các phiên toàn thể và chuyên đề nhằm hỗ trợ đại biểu.

     

    Sau phiên học thuật, buổi tối sẽ diễn ra Lễ Khai mạc, tiếp Tiệc chào mừng (Welcome Party) giành cho tất cả các đại biểu có Giấy Mời chính thức tham dự Hội nghị.

     

    Ngày thứ hai và thứ ba của Hội nghị, 17-18/06/2026: Tham dự Hội nghị, khách mời sẽ có cơ hội tham quan khu triển lãm với 8 gian hàng của các nhà tài trợ Kim cương – cấp cao nhất, cùng hơn 40 gian hàng đến từ các doanh nghiệp tài trợ hạng Vàng, Bạc và Đồng. Tại đây, các đơn vị hàng đầu trong và ngoài nước sẽ giới thiệu đa dạng sản phẩm và giải pháp phục vụ ngành chăn nuôi heo, từ vaccine, thuốc thú y, thức ăn chăn nuôi, con giống đến thiết bị chuồng trại và công nghệ liên quan.

     

    Về nội dung khoa học, hội nghị dự kiến quy tụ gần 1.000 báo cáo chuyên sâu. Trong đó có 150 báo cáo được trình bày miệng trực tiếp phân bổ trong 12 chủ đề (topics) và có 825 báo cáo sẽ được trình bày trong các e-poster (trên màn hình; khách tự chọn bài quan tâm để tự đọc).

    Ban tổ chức IPVS chụp ảnh lưu niệm cùng với các doanh nghiệp tham dự hội nghị nhà tài trợ

     

    Gần 1000 báo cáo khoa học đã gửi đến để Ban Tổ Chức đọc, phân loại, xét chọn giới thiệu lại trong Hội nghị theo từng Chủ đề như sau:

     

    1. Topic 1: Virology and Viral Diseases. Tập hợp hơn 200 báo cáo, trong đó đề cập nhiều nhất (hơn 40% trong tổng số 180 bài) đến bệnh PRRS (Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome); rồi đến bệnh PCV2 (Porcine Circovirus Type 2) (18% số bài của nhóm Chuyên đề này). Số bài còn lại đề cập đến nhiều bệnh khác do virus gây ra trên heo như Influenza A; ASF (African Swine Fever); Japanese Encephalitis Virus; Mycoplasma; PCV3; PED; Classical Swine Fever; Parvo virus; Corona virus; Pseudorabies virus; Rota virus; v.v…

     

    2. Topic 2: Bacterial and Parasitic Diseases. Có hơn 110 bài báo cáo trong lãnh vực này, với phần lớn là các báo cáo liên quan đến bệnh do vi khuẩn gây ra trên heo. Trong nhóm chủ đề này, phần lớn các bài báo cáo đề cập đến các loại bệnh trên đường tiêu hóa và các loại bệnh trên đường hô hấp với tác nhân vi khuẩn đa dạng, từ coli, Clostridium, Salmonella, cho đến Streptococcus suis, Mycoplasma, Colibacilosis, Lawsonia, Pasteurella multocida, v.v… rồi một số bài đề cập đến các kháng sinh, hóa dược quen dùng hoặc mới có để trị bệnh cho heo như các loại Halquinol, Flofenicol, Paromomycin, Enrofloxacin, Tildipirosin, Tulathromycin; và cả các phương thức dùng các sản phẩm tự nhiên trong nhóm probiotics, acid hữu cơ hay chất chiết xuất từ thực vật để hạn chế các bệnh do vi khuẩn gây ra trên đường tiêu hóa heo. Số bài báo cáo đề cập đến ký sinh trùng, tính luôn cả cầu trùng, chỉ chiếm khoảng 5% trong nhóm chủ đề này.

     

     

    3. Topic 3: Combating African Swine Fever (ASF). Nhóm chủ đề này nhận được hơn 30 bài báo cáo, chưa kể một số bài về ASF nhưng có liên quan với nội dung khác nên được xếp vào nhóm chủ đề khác. Đại biểu quan tâm đến nhóm chủ đề này sẽ gặp các báo cáo nói về ASF từ Trung Quốc, Việt Nam, Malaysia, các quốc gia châu Á khác, và một số đến từ vài quốc gia thuộc khu vực Trung Âu và Đông Âu; và một số báo cáo về nội dung “vaccin cho bệnh ASF”.

     

    4. Topic 4: Emerging Diseases in Swine. Nhóm chủ đề về các bệnh mới nổi này có hơn 20 bài báo cáo, trong đó đề cập đến một số bệnh đã quen tên trong ngành như PRRS, bệnh do PCV2, PCV3, Clostridium perfringens, v.v… và một số bệnh gần đây với tên mầm bệnh mới mẻ như báo cáo về bệnh do Getah virus gây ra trên heo ở Hubei, Trung Quốc. Một số báo cáo trong nhóm này đề cập đến tính di truyền của mầm bệnh; đến phương pháp khảo sát (điều tra) dịch tễ của bệnh.

     

     

    5. Topic 5: Advancements In Immunology & vaccination. Có khoảng 90 báo cáo thuộc nhóm chủ đề này, đứng thứ 3 về số bài báo cáo trong 12 nhóm, cho thấy sự quan tâm của cộng đồng khoa học về heo đặt nặng về việc phòng bệnh chủ động và thụ động cho heo hơn là về phương pháp (dùng thuốc) điều trị. Nội dung các báo cáo trong nhóm chủ đề này đề cập đến việc dùng chất bổ trợ trong sản xuất vaccin; đến kỹ thuật, phương pháp, phương tiện, nguồn vật liệu mới sản xuất vaccin liên quan đến các bệnh như PRRS, PCV2, FMD, Glasserella, Classical swine fever, bệnh do Streptococcus, do Lawsonia, do Salmonella, do Mycoplasma gây ra; và vài báo cáo đề cập đến nội dung “thiến sinh học” (immuno castration) cho heo đực nuôi thịt.

     

    6. Topic 6: Herd Health Management. Chủ đề này có hơn 60 bài báo cáo tham dự. Trong đó khoảng phân nửa số bài đề cập đến các bệnh “quen thuộc” như PRRS, PCV2, Salmonella, Mycoplasma nhưng trong mối quan hệ đến chăm sóc toàn đàn chứ không chỉ nghiên cứu chuyên về bệnh học trên cá thể. Ngoài ra một số bài đề cập đến các nội dung khác liên quan đến sức khoẻ đàn heo như nội dung về độc tố nấm mốc (mycotoxin), chất lượng sữa đầu (colostrum), chất lượng nước uống trong chuồng nuôi heo, thiết bị dọn vệ sinh, dụng cụ tiêm (ống tiêm và kim tiêm).

     

     

    7. Topic 7: Pig Production and Sustainability. Trên 30 bài đề cập liên quan đến chủ đề này, bao gồm các nội dung về dinh dưỡng chung cho heo cái tơ, heo cái sinh sản, heo con; về heo đực giống; về dụng cụ chăn nuôi heo; về bổ sung các vi chất (micro-nutrients); về các thức ăn bổ sung (các chất chiết xuất từ thực vật – phytogenics; các probiotics; acid hữu cơ; enzyme tiêu hóa và một vài loại khác)

     

    8. Topic 8: AioT in Pig Health and Production. Đây là nhóm có ít bài báo cáo nhất trong số 12 nhóm chủ đề. Các báo cáo liên quan đến nội dung sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI – artificial intelligent) trong đào tạo ngành chăn nuôi và ngành thú y; sử dụng AI để thực hiện an toàn sinh học (biosecurity) trong trại nuôi; và sử dụng AI để quan sát, phân tích, đánh giá các vấn đề về sức khoẻ đàn heo nuôi.

     

     

    9. Topic 9: Nutrition and Gut Microbiota. Đây là nhóm chủ đề có số bài báo cáo tham gia đứng hàng thứ 3 (đồng hạng với nhóm chủ đề số 5) trong 12 nhóm chủ đề nhưng có các tựa đề mở rộng, liên quan đến nhiều nội dung khác nhau trong lãnh vực dinh dưỡng chung và sức khoẻ đường ruột cho heo. Có thể kể đến các báo cáo khảo sát về nhu cầu của heo nái hoặc heo con về acid amin; về năng lượng và nhu cầu protein thô; về phospho và một số chất khoáng khác; liên quan đến nhiều loại thức ăn bổ sung khác nhau như các loại enzyme tiêu hóa; dạng vitamin D3; các chiết xuất từ thực vật (phytogenics; phytobiotics; tinh dầu thiết yếu); các loại acid hữu cơ hoặc các acid béo mạch vừa (MCF – medium chain fatty acids); các probiotics; nguồn cung khoáng vi lượng dạng vô cơ hoặc dạng hữu cơ; các loại probiotics kể cả chất chiết xuất từ nấm men hoặc nấm men sống (live yeasts). Còn có một số bài báo cáo đề cập đến một số vấn đề liên quan đến sức khoẻ chung của heo như vấn đề về độc tố nấm mốc; chứng hắc tố (melanosis) ở heo thịt. Ngoài ra cũng có báo cáo đề cập đến phương pháp sản xuất thức ăn; đến các nguyên liệu cho sản xuất thức ăn, nhất là các loại sữa dùng trong thức ăn heo con.

     

    10. Topic 10: One Health; AMR (Antimicrobial Resistance) and Pig Welfare. Nhóm chủ đề này có số lượng trung bình các báo cáo tham gia. Trong đó phần lớn là các báo cáo liên quan đến sức kháng của vi khuẩn với một số kháng sinh ở một số bệnh cụ thể, tập trung phần lớn vào đối tượng heo con. Đồng thời một số báo cáo về việc sử dụng các chế phẩm từ chiết xuất thực vật, probiotics giúp giảm bớt gánh nặng dùng kháng sinh cả trong điều trị heo con. Cũng có báo cáo liên quan đến nội dung hơi khác như về tồn dư kim loại nặng trong tinh dịch heo đực; hoặc mối liên quan giữa phúc lợi động vật (animal welfare) với chất lượng thịt heo.

     

     

    11. Topic 11: Reproduction Technologies and Lactation. Nhóm chủ đề này cũng có số lượng báo cáo vừa phải, có lẽ vì đã có nhiều báo cáo khác tuy có liên quan nhưng lại cũng được chia xẻ ở những nhóm chủ đề gần tương tự rồi. Các báo cáo trong nhóm chủ đề này tập trung về các hạn chế cụ thể ở heo cái sinh sản hoặc heo đực như nội dung liên quan đến sữa đầu; đến hormon hỗ trợ sinh sản; đến sản xuất sữa ở heo nái; đến chất lượng tinh dịch heo đực và công việc thụ tinh nhân tạo (AI – artificial insemination).

     

     

    12. Topic 12: Pig Farming Practices. Gần tương tự như nhóm chủ đề số 11, ở nhóm chủ đề này có số lượng báo cáo tham gia vừa phải, do các báo cáo tuy đề cập đến nhiều nội dung trong chăn nuôi heo nhưng chỉ ở phạm vi mang tính thực hành trong thực tiễn chăn nuôi. Các nội dung tập trung vào phương tiện trong chuồng nuôi; tác động của việc sử dụng kháng sinh; an toàn sinh học; và thực hành chăm sóc, quản lý heo con theo mẹ và sau cai sữa.

     

     

    Ngày cuối của Hội Nghị, 19/06/2026: Hội nghị sẽ tiếp tục với các phiên toàn thể gồm hai báo cáo trọng tâm (keynote lecture), trong đó Jeffrey James Zimmerman (Đại học Bang Iowa, Hoa Kỳ) trình bày chủ đề “Active Surveillance Based on Environmental Sampling: Opportunities and Challenges”, và Cesar Corzo (Đại học Minnesota, Hoa Kỳ) với báo cáo “Understanding the epidemiology of swine diseases through voluntary programs”.

     

    Bên cạnh đó, vào cuối mỗi ngày 17 và 18/6 sẽ diễn ra các hội thảo bên lề (Satellite Symposium) do các doanh nghiệp lớn trong ngành tổ chức, tạo diễn đàn trao đổi sâu hơn về các vấn đề chuyên môn và giải pháp thực tiễn.

     

    Để cập nhật lịch trình chi tiết các phiên báo cáo và thông tin liên quan, đại biểu có thể tham khảo tại website chính thức của Hội nghị: https://ipvs2026.vn hoặc liên hệ các bộ phận phụ trách được công bố trên trang.

     

    Hội nghị IPVS 2026 trân trọng chào đón và hẹn gặp các nhà khoa học, chuyên gia và doanh nghiệp tại Trung tâm ThiskyHall, TP.HCM, từ ngày 16-19/6/2026.

     

    Ban Khoa Học và Ban Truyền Thông

    Thuộc Ban Tổ Chức IPVS 2026

    Để lại comment của bạn

    Bình luận mới nhất

  • Đỗ Thị Hồng Thắm
  • Cùng quan điểm với chị Kim Oanh: Chúng em cũng là thú y xã, được tuyển theo Nghị quyết 51. Cũng là người làm công tác thú y xã tới bây giờ là 12 năm rồi. Việc Nghị quyết 51 ra đời với mức phụ cấp 2.34*1.5 cũng bởi thú y bao nhiêu năm đã thiệt thòi rồi. Và mức phụ cấp đó là cứng chứ không còn thêm một khoản nào nữa. Nhưng mọi người ở xã thì cứ vin vào mức phụ cấp mới vào đã cao rồi nên bắt bẻ đủ kiểu. Địa bàn quản lý thì tăng lên gấp 2-3 lần, không có chi thường xuyên, không được ký hợp đồng, không được đóng bhyt và bhxh, đi làm đủ ngày 8 tiếng và những đợt tiêm phun thì còn phải làm cả ngoài giờ. So với các anh chị công chức, viên chức làm ngần ấy năm thì giờ họ lên bậc bao nhiêu rồi? chi thường xuyên, công tác phí, tiền làm thêm giờ, chế độ bảo hiểm của họ, tiền trợ cấp độc hại, thu nhập tăng thêm theo Luật thủ đô...là bao nhiêu rồi? Vậy mà đến giờ còn định bảo đi tiêm không có công, trong khi trước đó công đã rất thấp rồi. Báo trưởng thôn phối hợp thì công chức lại nhảy lên các em lương cao phải tự đi thống kê. Dạ xin thưa là nếu không có người của thôn đi cùng thì dân người ta cũng chẳng phối hợp đâu ạ, người ta biết thú y thật hay giả mà cung cấp thông tin và số liệu, họ bảo biết đâu lừa đảo thì sao. Thêm nữa có phải ban ngày nhà nào cũng có ở nhà đâu, họ còn đi làm chứ. Bảo thú y đi từng nhà hỏi chắc cả năm không đi hỏi hết hàng nghìn, hàng chục nghìn đầu nhà đâu ạ. Mong được cấp trên quan tâm, chỉ đạo và cân nhắc chế độ để anh em thú y xã bớt thiệt thòi

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Theo UBND xã Minh Châu – Ba Vì – Hà Nội, xác định lợi thế về đất đai, khí hậu nên những năm qua đã đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp là chính, trong đó xã tập trung đến phát triển chăn nuôi bò sinh sản, bò thịt. […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Trong bối cảnh bệnh Dịch tả lợn châu Phi (DTLCP) đã xảy ra tại TP Hồ Chí Minh, thành phố càng nỗ lực thực hiện các biện pháp kiểm soát chăn nuôi, giết mổ và tiêu thụ gắt gao. Hơn nữa, khảo sát một đêm tại thị trường […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Anh Trần Văn Toản, ở khu vực Bình Yên B, phường Long Hòa, quận Bình Thủy, TP. Cần Thơ là người đầu tiên ở Đồng bằng sông Cửu Long mở trang trại nuôi chim công rất thành công mà cho thu nhập hơn 200 triệu đồng/năm.   1/ […]

    • Giống chim này có khả năng thích ứng cao với điều kiện khí hậu ở nước ta, tỷ lệ nuôi sống đạt 94-99%.

    • Để đàn gà sinh trưởng phát triển tốt có tỷ lệ sống cao cần thực hiện tốt kỹ thuật úm gà con

    • Việt Nam cùng với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ… là những nước đã nuôi trồng thành công đông trùng hạ thảo.

    • Gà vảy cá được mệnh danh là “mỹ kê” đã được nhiều đại gia Việt sẵn sàng chi tiền triệu để hữu cặp gà vảy cá đẹp.

    • Cừu chính là loài vật nuôi thích hợp với những điều kiện khắc nghiệt của vùng đất Ninh Thuận.

    • Nghề nuôi chim cút đẻ hiện đang phổ biến ở rất nhiều hộ gia đình tại các địa phương và mang lại hiệu quả kinh tế khá.

    • Tỉnh Phú Thọ với địa hình đa dạng: nhiều gò, đồi thấp, dải đồng bằng thuận lợi cho chăn nuôi, trong đó, có chăn nuôi gà lông màu.