Chất thải trong chăn nuôi: Những “hồi chuông” cảnh báo... - Chăn nuôi Việt Nam
    • Giá heo (lợn) hơi miền Bắc từ 60.000 - 70.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hà Nội 69.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hưng Yên 70.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Trung và Tây Nguyên từ 68.000 - 72.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Quảng Trị 70.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Thanh Hóa 68.000đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Lâm Đồng 72.000đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Nam từ 69.000 - 72.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Đồng Nai 72.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Cà Mau 70.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Đồng Tháp 71.000 đ/kg
    •  
  • Chất thải trong chăn nuôi: Những “hồi chuông” cảnh báo…

    [Chăn nuôi Việt Nam] – Chăn nuôi là trụ cột kinh tế nông nghiệp, đảm bảo sinh kế cho hàng triệu hộ gia đình. Thế nhưng, đằng sau những con số tăng trưởng ấn tượng là một áp lực khổng lồ lên môi trường. Những vụ xả hàng nghìn tấn chất thải thời gian gần đây như một hồi chuông cảnh báo: Nếu không thực hiện nghiêm các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường, doanh nghiệp hay người chăn nuôi đều sẽ có thể phải đối diện trước pháp luật!

     

    Doanh nghiệp hay người chăn nuôi lợn cần nhận thức rõ về việc tuân thủ pháp luật, đảm bảo xử lý môi trường (Ảnh: Nguyễn Hưởng) 

     

    “Núi” chất thải và áp lực từ những con số “biết nói” 

     

    Theo ông Nguyễn Văn Long, Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ (Bộ NN&MT), hàng năm, đàn vật nuôi Việt Nam thải vào môi trường khoảng 60,6 triệu tấn chất thải rắn (phân khô, thức ăn thừa) và 289,6 triệu khối chất thải lỏng (phân lỏng, nước tiểu và nước rửa chuồng trại). Trong đó, khoảng 50% lượng chất thải rắn (30,5 triệu tấn), 80% chất thải lỏng (200-230 triệu m3 ) xả thẳng ra môi trường, hoặc sử dụng không qua xử lý sẽ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. 

     

    Mỗi năm, ngành chăn nuôi phát sinh khoảng 60,6 triệu tấn chất thải, trong đó khu vực chăn nuôi nông hộ chiếm tỷ trọng lớn nhất. Tỷ lệ chất thải phát sinh chủ yếu đến từ chăn nuôi trâu (98,8%) chiếm tỷ lệ cao nhất; bò (89,4%); lợn (75%) và gia cầm (71,8%). Bên cạnh đó, chăn nuôi hiện đóng góp khoảng 18% tổng lượng phát thải khí nhà kính toàn cầu quy đổi theo CO₂, gây áp lực lớn lên môi trường, sản xuất và đời sống xã hội, đồng thời làm gia tăng tác động của biến đổi khí hậu. 

     

    Kết quả khảo sát thực trạng xử lý chất thải cho thấy, chỉ 6,6% cơ sở chăn nuôi thực hiện báo cáo đánh giá tác động môi trường và 12,1% có kế hoạch bảo vệ môi trường. Về các biện pháp xử lý, 60,5% cơ sở đầu tư công trình khí sinh học (biogas), 32,4% áp dụng ủ phân, trong khi 3,1% sử dụng các hình thức khác như nuôi giun, nuôi cá, phơi hoặc bán chất thải. Đáng chú ý, có tới 96,1% trang trại đã áp dụng ít nhất một biện pháp xử lý chất thải chăn nuôi, song vẫn còn 3,9% chưa triển khai bất kỳ giải pháp nào. 

     

    Trên báo chí, chúng ta thường xuyên bắt những thông tin cơ quan chức năng công bố xử phạt nhiều doanh nghiệp, trang trại, đặc biệt là chăn nuôi lợn xả chất thải ra môi trường. Đặc biệt, thời gian gần đây, sự việc một công ty chăn nuôi lớn ở Thanh Hóa vài năm nay xả chất thải, đã bị khởi tố hình sự “gây ô nhiễm môi trường”, thực sự là một dấu hỏi lớn, một hồi chuông báo động đối với toàn ngành chăn nuôi lợn của Việt Nam. 

     

    Cần nâng cao nhận thức cho các doanh nghiệp và cơ sở chăn nuôi 

     

    Nguyễn Ngọc Sơn, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Chăn nuôi Việt Nam nhấn mạnh, cần nâng cao nhận thức cho các doanh nghiệp cơ sở chăn nuôi bằng nhiều hình thức nhất là đối với chăn nuôi tập trung, cơ sở đã nằm trong vùng quy hoạch tạo sự chuyển biến rõ nét về việc tuân thủ pháp  luật, đảm bảo xử lý môi trường, an toàn dịch bệnh khi tham gia vào quá trình chăn nuôi hoặc xây dựng cơ sở sản xuất giết mổ, sơ chế, chế biến. 

     

    Cùng với đó, đẩy nhanh tiến độ ứng dụng chăn nuôi công nghệ cao trong xu thế hội nhập thế giới trong đó ưu tiên tập trung nguồn lực, nhân lực cho các doanh nghiệp xây dựng liên kết chuỗi, có công nghệ xử lý môi trường tái chế, sản xuất các chất thải để phục vụ lại cho phát triển chăn nuôi trồng trọt. Ngoài ra, nhanh chóng nhân rộng các mô hình điển hình đã làm tốt, hiệu quả về tái chế chất thải thời gian qua, đi tắt, đón đầu các công nghệ mới tiên tiến về sản xuất tái chế chất thải chăn nuôi. 

     

    Theo TS. Nguyễn Thành Trung – Bộ môn Nghiên cứu Hệ thống và Môi trường chăn nuôi, Viện Chăn nuôi và Thú y, để quản lý chất thải trong chăn nuôi cần đồng bộ: thể chế, chính sách; khoa học kỹ thuật; tài chính; quy hoạch vùng chăn nuôi; quy hoạch trang trại, thiết kế chuồng trại; quản lý trang trại…. 

     

    Ông cho rằng, chất thải chăn nuôi (phân) là một tài nguyên quan trọng giàu dinh dưỡng và chất hữu cơ. Nếu quản lý kém, chúng sẽ trở thành vấn đề môi trường, đóng góp 6% tổng lượng phát thải khí methane do hoạt động của con người. Vì vậy, hướng đi mới là xử lý chất thải theo hướng tuần hoàn. 

     

    Chất thải rắn (phân rắn) có thể được ủ compost hoặc nuôi côn trùng (giun quế, ruồi lính đen) để tạo ra thức ăn cho vật nuôi (lợn, gia cầm, lươn, ếch) hoặc phân hữu cơ. Chất thải lỏng có thể được lắng lọc, xử lý bằng biogas, sau đó nước thải sau biogas có thể dùng cho cây ăn quả hoặc rau. Khí biogas còn có thể dùng để đốt xác lợn chết. 

     

    Nguyễn Thành Trung cũng cho biết, biochar đây là một giải pháp đầy tiềm năng để khắc phục những vấn đề của phương pháp xử lý thông thường như mùi hôi, hợp chất hữu cơ bay hơi, khí nhà kính, mầm bệnh (Salmonella, E. coli, Listeria, Cryptosporidium), tồn dư kháng sinh và kim loại nặng.

     

    Lợi ích của biochar đó là giải quyết triệt để các vấn đề ô nhiễm, cải thiện chất lượng đất (tăng độ phì nhiêu, giữ nước, cung cấp dinh dưỡng) và đặc biệt là cô lập carbon, giảm phát thải khí nhà kính hiệu quả. 

     

    Quy trình sản xuất như sau: Chất thải chăn nuôi (phân bò, lợn, gà) được tách nước/ làm khô sơ bộ, nghiền nhỏ (nếu cần), sau đó đốt yếm khí ở nhiệt độ 350-6000 C để tạo ra biochar dùng cải tạo đất, hấp thụ kim loại nặng và giữ nước. 

     

    Đây là một phương thức cung cấp khẩu phần ăn đáp ứng đúng nhu cầu của từng cá thể vật nuôi, dựa trên dữ liệu thu thập từ cảm biến theo dõi khối lượng, hoạt động, lượng thức ăn tiêu thụ và điều kiện môi trường. 

     

    Mục tiêu của việc nuôi đúng theo yêu cầu giúp đảm bảo vật nuôi nhận đủ chất dinh dưỡng, tránh thiếu hụt hoặc dư thừa, giảm các vấn đề sức khỏe và ô nhiễm môi trường. 

     

    Tâm An

    MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ XỬ LÝ CHẤT THẢI CHĂN NUÔI TRONG LUẬT CHĂN NUÔI 

     

    Năm 2018, Luật chăn nuôi ra đời, trong đó xử lý chất thải chăn nuôi được quy định rõ tại mục 2 chương 4. Điều 59, Luật Chăn nuôi quy định đối với chăn nuôi trang trại, chất thải chăn nuôi bao gồm chất thải rắn có nguồn gốc hữu cơ, nước thải chăn nuôi, khí thải và chất thải khác. 

     

    Việc xử lý chất thải rắn có nguồn gốc hữu cơ đối với chăn nuôi trang trại được quy định tổ chức, cá nhân sở hữu cơ sở chăn nuôi trang trại có trách nhiệm xử lý chất thải rắn có nguồn gốc hữu cơ đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia trước khi sử dụng cho cây trồng hoặc làm thức ăn cho thủy sản. 

     

    Chất thải rắn có nguồn gốc hữu cơ chưa xử lý khi vận chuyển ra khỏi cơ sở chăn nuôi trang trại đến nơi xử lý phải sử dụng phương tiện, thiết bị chuyên dụng. Vật nuôi chết vì dịch bệnh và chất thải nguy hại khác phải được xử lý theo quy định của pháp luật về thú y, bảo vệ môi trường. 

     

    Đối với nước thải chăn nuôi, khoản 3, Điều 59 Luật Chăn nuôi quy định: Tổ chức, cá nhân sở hữu cơ sở chăn nuôi trang trại có trách nhiệm thu gom, xử lý nước thải chăn nuôi đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải chăn nuôi trước khi xả thải ra nguồn tiếp nhận theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường; 

     

    Nước thải chăn nuôi đã xử lý đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải chăn nuôi được sử dụng cho cây trồng. 

     

    Nước thải chăn nuôi chưa xử lý khi vận chuyển ra khỏi cơ sở chăn nuôi trang trại đến nơi xử lý phải sử dụng phương tiện, thiết bị chuyên dụng. Khoản 4, 5 Điều 59 còn quy định tổ chức, cá nhân sở hữu cơ sở chăn nuôi trang trại có trách nhiệm xử lý khí thải từ hoạt động chăn nuôi đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải chăn nuôi và việc xử lý chất thải khác phải tuân thủ quy định của pháp luật về thú y, bảo vệ môi trường. 

     

    Đối với chăn nuôi nông hộ, Điều 60 Luật Chăn nuôi quy định chủ chăn nuôi nông hộ phải thực hiện các yêu cầu; Có biện pháp xử lý phân, nước thải, khí thải chăn nuôi bảo đảm vệ sinh môi trường và không gây ảnh hưởng đến người xung quanh; Vật nuôi chết vì dịch bệnh và chất thải nguy hại khác phải được xử lý theo quy định của pháp luật về thú y, bảo vệ môi trường. 

     

    Để cụ thể hoá các quy định của pháp luật về chăn nuôi, trong đó có quản lý chất thải chăn nuôi, Chính phủ cũng ban hành nghị định 13/2020/NĐ-CP về Hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi trong đó chương 6 quy định chi tiết về xử lý chất thải chăn nuôi. 

     

    QUY CHUẨN KỸ THUẬT QUỐC GIA VỀ NƯỚC THẢI CHĂN NUÔI QCVN 62:2025/BTNMT

     

    Theo Quy chuẩn QCVN 62:2025/BTNMT, các quy định về quản lý nước thải chăn nuôi được nêu rõ như sau: Các thông số ô nhiễm và giới hạn cho phép của chúng trong nước thải chăn nuôi từ các dự án đầu tư hoặc cơ sở chăn nuôi khi xả ra nguồn tiếp nhận phải được quy định cụ thể trong quyết định phê duyệt kết quả thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường, giấy phép môi trường hoặc văn bản đăng ký môi trường. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/9/2025.  

     

    Quy chuẩn đã đưa ra chỉ số về các thông số: độ pH, nhu cầu ôxy sinh hóa (BOD5 ở 200 C); nhu cầu ôxy hóa học (COD), tổng Cacbon hữu cơ (TOC); tổng chất rắn lơ lửng (TSS); tổng Nitơ (TN); tổng Phốt pho (T-P); tổng Coliform.

     

    Việc xả nước thải chăn nuôi vào nguồn nước tiếp nhận được coi là đạt chuẩn và tuân thủ Quy chuẩn này khi kết quả kiểm tra, phân tích các chỉ tiêu ô nhiễm không vượt ngưỡng giới hạn cho phép theo quy định của Quy chuẩn. 

     

    Quá trình đánh giá mức độ tuân thủ Quy chuẩn sẽ được thực hiện bằng cách lấy mẫu nước thải để quan trắc và phân tích trước khi xả thải ra môi trường. 

     

    Theo quy định mới, nước thải chăn nuôi khi được đấu nối vào hệ thống thu gom và xử lý nước thải đô thị hoặc khu dân cư tập trung phải đảm bảo đúng yêu cầu của đơn vị quản lý, vận hành hệ thống hoặc tuân theo quy định của chính quyền địa phương. 

     

    Trường hợp nước thải chăn nuôi được xả chung với nước thải công nghiệp, cần phải quản lý theo quy định dành cho nước thải công nghiệp tại QCVN 40:2025/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về nước thải công nghiệp. 

     

    Chủ đầu tư dự án, cơ sở chăn nuôi có trách nhiệm đảm bảo các thông số ô nhiễm không vượt quá giới hạn cho phép theo quy định Quy chuẩn. 

     

    UBND tỉnh có trách nhiệm rà soát và điều chỉnh quy chuẩn kỹ thuật môi trường địa phương liên quan đến nước thải chăn nuôi, đảm bảo phù hợp với quy định pháp luật, tình hình phát triển kinh tế – xã hội địa phương và các yêu cầu của Quy chuẩn này. 

    P.V (tổng hợp)

    Để lại comment của bạn

    Bình luận mới nhất

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Theo UBND xã Minh Châu – Ba Vì – Hà Nội, xác định lợi thế về đất đai, khí hậu nên những năm qua đã đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp là chính, trong đó xã tập trung đến phát triển chăn nuôi bò sinh sản, bò thịt. […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Trong bối cảnh bệnh Dịch tả lợn châu Phi (DTLCP) đã xảy ra tại TP Hồ Chí Minh, thành phố càng nỗ lực thực hiện các biện pháp kiểm soát chăn nuôi, giết mổ và tiêu thụ gắt gao. Hơn nữa, khảo sát một đêm tại thị trường […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Anh Trần Văn Toản, ở khu vực Bình Yên B, phường Long Hòa, quận Bình Thủy, TP. Cần Thơ là người đầu tiên ở Đồng bằng sông Cửu Long mở trang trại nuôi chim công rất thành công mà cho thu nhập hơn 200 triệu đồng/năm.   1/ […]

    • Giống chim này có khả năng thích ứng cao với điều kiện khí hậu ở nước ta, tỷ lệ nuôi sống đạt 94-99%.

    • Để đàn gà sinh trưởng phát triển tốt có tỷ lệ sống cao cần thực hiện tốt kỹ thuật úm gà con

    • Việt Nam cùng với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ… là những nước đã nuôi trồng thành công đông trùng hạ thảo.

    • Gà vảy cá được mệnh danh là “mỹ kê” đã được nhiều đại gia Việt sẵn sàng chi tiền triệu để hữu cặp gà vảy cá đẹp.

    • Cừu chính là loài vật nuôi thích hợp với những điều kiện khắc nghiệt của vùng đất Ninh Thuận.

    • Nghề nuôi chim cút đẻ hiện đang phổ biến ở rất nhiều hộ gia đình tại các địa phương và mang lại hiệu quả kinh tế khá.

    • Tỉnh Phú Thọ với địa hình đa dạng: nhiều gò, đồi thấp, dải đồng bằng thuận lợi cho chăn nuôi, trong đó, có chăn nuôi gà lông màu.