Theo số liệu thống kê từ TCHQ Việt Nam, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu (TĂCN & NL) trong tháng 5/2019 đạt 353 triệu USD, tăng 28,47% so với tháng trước đó và tăng 3,92% so với cùng tháng năm ngoái.
Các thị trường chính cung cấp TĂCN & NL cho Việt Nam trong tháng 5/2019 vẫn là Argentina, Mỹ, Brazil và Trung Quốc… Trong đó, Argentina trở thành thị trường cung cấp lớn nhất cho Việt Nam với 154 triệu USD, tăng 69,02% so với tháng trước đó và tăng 64,24% so với cùng tháng năm ngoái, nâng kim ngạch nhập khẩu TĂCN & NL trong 5 tháng đầu năm 2019 lên hơn 571 triệu USD, chiếm 35,4% thị phần.
Kế đến là thị trường Mỹ với kim ngạch nhập khẩu trong tháng 5/2019 đạt hơn 42 triệu USD, giảm 22,73% so với tháng 4/2019 và giảm 25,34% so với tháng 5/2018. Tính chung, trong 5 tháng đầu năm 2019 Việt Nam đã nhập khẩu TĂCN & NL từ thị trường này đạt hơn 290 triệu USD, tăng 14,61% so với cùng kỳ năm 2018.
Đứng thứ ba là Brazil với kim ngạch nhập khẩu hơn 27 triệu USD, tăng 444% so với tháng 4/2019 nhưng giảm 63,58% so với tháng 5/2018, nâng tổng kim ngạch nhập khẩu trong 5 tháng đầu năm 2019 lên hơn 114 triệu USD, giảm 38,46% so với cùng kỳ năm 2018.
Tính chung, trong 5 tháng đầu năm 2019 Việt Nam đã chi hơn 1,6 tỉ USD nhập khẩu TĂCN & NL, tăng 0,28% so với cùng kỳ năm 2018. Các thị trường có kim ngạch tăng trưởng mạnh trong thời gian này là: Australia với 14,9 triệu USD, tăng 152,91% so với cùng kỳ năm 2018, Canada với 21,8 triệu USD, tăng 140,68% so với cùng kỳ năm 2018, Tây Ban Nha với hơn 5 triệu USD, tăng 45,94% so với cùng kỳ năm 2018, sau cùng là Chile với hơn 4,6 triệu USD, tăng 42,86% so với cùng kỳ.
Nhập khẩu TĂCN & NL 5 tháng đầu năm 2019 theo thị trường
ĐVT: nghìn USD
| Thị trường | T5/2019 | +/- So vớiT5/2018 (%) | 5T/2019 | +/- So với 5T/2018 (%) |
| Tổng KN | 353.454 | 28,5 | 1.614.079 | 0,3 |
| Argentina | 154.359 | 69,0 | 571.539 | -1,2 |
| Ấn Độ | 13.673 | -22,2 | 86.914 | -0,1 |
| Anh | 119 | -33,7 | 478 | -22,5 |
| Áo | 411 | 50,5 | 1.475 | -51,3 |
| Bỉ | 533 | -51,2 | 4.964 | -67,8 |
| Brazil | 27.926 | 444 | 114.371 | -38,5 |
| UAE | 3.334 | 247,0 | 10.349 | -65 |
| Canada | 6.150 | -2,9 | 21.803 | 140,7 |
| Chile | 802 | 5,3 | 4.688 | 42,9 |
| Đài Loan (TQ) | 8.304 | 65,0 | 28.067 | -19,4 |
| Đức | 687 | -23,4 | 4.317 | 4,8 |
| Hà Lan | 1.408 | 50,1 | 7.910 | 2,8 |
| Hàn Quốc | 5.034 | 27,6 | 20.661 | 4,5 |
| Mỹ | 42.190 | -22,7 | 290.840 | 14,6 |
| Indonesia | 3.448 | -35,9 | 29.828 | -29,6 |
| Italia | 3.437 | -3,8 | 23.718 | 10,8 |
| Malaysia | 3.600 | 80,2 | 12.454 | -8,7 |
| Mexico | 79 | -68,3 | 1.049 | -50,9 |
| Nhật Bản | 206 | -0,8 | 1.002 | -14,8 |
| Australia | 3.214 | -2,2 | 14.989 | 152,9 |
| Pháp | 2.661 | 29,9 | 14.213 | 9,2 |
| Philippin | 1.800 | 50,7 | 7.675 | 4,0 |
| Singapore | 1.519 | 8,8 | 7.162 | 4,2 |
| Tây Ban Nha | 686 | 60,2 | 5.074 | 45,9 |
| Thái Lan | 13.638 | 50,2 | 52.158 | 19,4 |
| Trung Quốc | 17.024 | 22,3 | 79.741 | -11,3 |
Nguồn: Vinanet tính toán từ số liệu sơ bộ của TCHQ
Nhập khẩu nguyên liệu sản xuất TĂCN như lúa mì, ngô, đậu tương và dầu mỡ động thực vật trong 5 tháng đầu năm 2019.
Nhập khẩu các nguyên liệu sản xuất TĂCN 5 tháng đầu năm 2019
| Mặt hàng
|
5T/2019 | +/- So với 5T/2018 | ||
| Lượng (nghìn tấn) | Trị giá (nghìn USD) | Lượng (%) | Trị giá (%) | |
| Lúa mì | 1.045 | 294.517 | -58 | -49,7 |
| Ngô | 4.112 | 862.586 | 0,5 | 6,3 |
| Đậu tương | 769 | 304.965 | 7 | -2,5 |
| Dầu mỡ động thực vật | 270.974 | -5,4 | ||
Nguồn: Vinanet tính toán từ số liệu sơ bộ của TCHQ
Lúa mì: Ước tính khối lượng nhập khẩu lúa mì trong tháng 5/2019 đạt 293 nghìn tấn với kim ngạch đạt 82 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị nhập khẩu mặt hàng này trong 5 tháng đầu năm 2019 lên hơn 1,045 triệu tấn, với trị giá hơn 294 triệu USD, giảm 58% về khối lượng và giảm 49,73% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.
Thị trường nhập khẩu lúa mì chính trong 5 tháng đầu năm 2019 là Australia chiếm 46% thị phần; Nga chiếm 17%, Canada chiếm 11%, Brazil chiếm 8% và Mỹ chiếm không đáng kể 3%.
Hầu hết các thị trường nhập khẩu lúa mì đều giảm mạnh cả về khối lượng và trị giá so với cùng kỳ năm 2018 là Nga, Mỹ, Australia và Canada. Trong 5 tháng đầu năm 2019, nhập khẩu lúa mì Nga giảm 86,38% về lượng và giảm mạnh 83,24% về trị giá so với cùng kỳ. Tiếp theo là Mỹ giảm 70,6% về lượng và giảm 71,46% về trị giá so với cùng kỳ. Canada giảm 32,94% về lượng và giảm 31,93% về trị giá so với cùng kỳ. Sau cùng là Australia giảm 17,73% về lượng và giảm 7,89% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018. Duy nhất chỉ có Brazil tăng mạnh 10,98% về lượng và 41,36% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.
Đậu tương: Ước khối lượng đậu tương nhập khẩu trong tháng 5/2019 đạt 179 nghìn tấn với trị giá hơn 72 triệu USD, đưa khối lượng và giá trị nhập khẩu đậu tương trong 5 tháng đầu năm 2019 lên hơn 769 nghìn tấn và 304 triệu USD, tăng 6,96% về khối lượng song giảm 2,5% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.
Ngô: Ước tính khối lượng ngô nhập khẩu trong tháng 5/2019 đạt hơn 1,147 triệu tấn với trị giá đạt 235 triệu USD, nâng khối lượng và giá trị nhập khẩu ngô 5 tháng đầu năm 2019 lên hơn 4 triệu tấn, trị giá hơn 862 triệu USD, tăng 0,51% về khối lượng và tăng 6,29% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.
Argentina và Brazil là hai thị trường nhập khẩu ngô chính, chiếm lần lượt là 56% và 41% thị phần. Tuy nhiên, trong 5 tháng đầu năm 2019 nhập khẩu ngô từ thị trường Argentina giảm mạnh 11,86% về lượng và 6,3% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.
Vũ Lanh
Nguồn: Vinanet
- Axiom quy tụ 250 đại biểu ngành chăn nuôi heo toàn cầu tại Hội nghị quốc tế đầu tiên
- Hưng Yên đẩy mạnh liên kết chuỗi giá trị, hướng tới ngành chăn nuôi hiện đại và bền vững
- Dịch lở mồm long móng chủng vi rút SAT1 tiếp tục lan rộng, gia tăng nguy cơ xâm nhập vào khu vực Đông Nam Á
- Định hướng phát triển ngành chăn nuôi thỏ đến năm 2035: Hướng tới ngành hàng hiện đại, bền vững và có sức cạnh tranh
- ADM đồng hành cùng IPVS 2026: Thúc đẩy đổi mới khoa học ngành chăn nuôi heo
- Bắc Ninh: Hơn 550 con lợn chết sau sự cố mất điện do sét đánh, thiệt hại gần 4,5 tỷ đồng
- Hòa Phát bán hơn 212.000 con heo và gần 177.000 tấn thức ăn chăn nuôi trong nửa đầu năm 2026
- BAF đề xuất đầu tư dự án tổ hợp trang trại chăn nuôi công nghệ cao và nhà máy chế biến thực phẩm tại Hưng Yên
- Tập đoàn Mavin nhận danh hiệu “Doanh nghiệp Xanh” tại Diễn đàn Net Zero 2026 của VCCI
- SAT1 – Chủng virus lở mồm long móng cần được nhận diện và chẩn đoán đúng ngay từ thực địa
Tin mới nhất
T2,13/07/2026
- Axiom quy tụ 250 đại biểu ngành chăn nuôi heo toàn cầu tại Hội nghị quốc tế đầu tiên
- Hưng Yên đẩy mạnh liên kết chuỗi giá trị, hướng tới ngành chăn nuôi hiện đại và bền vững
- Dịch lở mồm long móng chủng vi rút SAT1 tiếp tục lan rộng, gia tăng nguy cơ xâm nhập vào khu vực Đông Nam Á
- Định hướng phát triển ngành chăn nuôi thỏ đến năm 2035: Hướng tới ngành hàng hiện đại, bền vững và có sức cạnh tranh
- ADM đồng hành cùng IPVS 2026: Thúc đẩy đổi mới khoa học ngành chăn nuôi heo
- Bắc Ninh: Hơn 550 con lợn chết sau sự cố mất điện do sét đánh, thiệt hại gần 4,5 tỷ đồng
- Hòa Phát bán hơn 212.000 con heo và gần 177.000 tấn thức ăn chăn nuôi trong nửa đầu năm 2026
- BAF đề xuất đầu tư dự án tổ hợp trang trại chăn nuôi công nghệ cao và nhà máy chế biến thực phẩm tại Hưng Yên
- Tập đoàn Mavin nhận danh hiệu “Doanh nghiệp Xanh” tại Diễn đàn Net Zero 2026 của VCCI
- SAT1 – Chủng virus lở mồm long móng cần được nhận diện và chẩn đoán đúng ngay từ thực địa
- Ngành chăn nuôi heo trước thách thức mới trên hành trình phát triển bền vững
- Chuyên gia bàn giải pháp sử dụng kháng sinh có kiểm soát trong chăn nuôi
- Ngành sữa Việt Nam: Cơ hội “bứt phá” từ nội lực
- Dịch tả heo châu Phi: Hiện trạng và giải pháp kiểm soát hiệu quả (Phần 1)
- Bộ NN&MT mở đợt ‘truy quét’ việc lạm dụng chất kích tăng trưởng, tăng trọng
- Cargill rút khỏi ngành thức ăn thủy sản tại Việt Nam, đóng cửa nhà máy tại Đồng Tháp và Long An
- Chăn nuôi dê bền vững theo chuỗi giá trị: Chủ nhà hàng là mắt xích quan trọng
- Da khỏe, lông đẹp: Chiến lược dinh dưỡng hiệu quả cho heo con sau cai sữa
- Lo ngại bệnh than, Campuchia ngừng nhập một số sản phẩm từ Thái Lan
- Cạn tiền, một công ty tại Nam Phi phải tiêu hủy hơn 350.000 con gà























Bình luận mới nhất