- Tổng quan về ngành chăn nuôi lợn của Việt Nam giai đoạn 2019-2022 (P1): Tăng trưởng đàn và sản lượng thịt
- Tổng quan về ngành chăn nuôi lợn của Việt Nam giai đoạn 2019-2022 (P5): Thị trường sản phẩm thịt lợn
3.2. Xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm
3.2.1. Đối với xuất khẩu sản phẩm
Tổng giá trị xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi năm 2022 ước đạt 409 triệu USD giảm 7,1% so với năm 2021. Năm 2022, Việt Nam xuất khẩu 18,87 nghìn tấn thịt và các sản phẩm thịt, trị giá 84,6 triệu USD, giảm 3,3% về lượng, nhưng tăng 3,6% về trị giá so với năm 2021. Thịt và các sản phẩm thịt của Việt Nam chủ yếu được xuất khẩu sang các thị trường như Hồng Kông, Thái Lan, Bỉ, Pháp, Lào… Trong đó, xuất khẩu sang thị trường Hồng Kông chiếm 40,72% tổng lượng thịt xuất khẩu của cả nước với 7,68 nghìn tấn, trị giá 42,61 triệu USD, giảm 21,5% về lượng và giảm 16,3% về trị giá so với năm 2021. Thịt và các sản phẩm thịt của Việt Nam được xuất khẩu sang thị trường Hồng Kông chủ yếu là thịt lợn tươi ướp lạnh hoặc đông lạnh…
Thịt và các sản phẩm từ thịt của Việt Nam xuất khẩu chủ yếu gồm các chủng loại như: Thịt lợn tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh (chủ yếu là thịt lợn tươi, thịt lợn sữa đông lạnh nguyên con; thịt lợn nguyên con đông lạnh). Trong đó, thịt lợn tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh được xuất khẩu nhiều nhất với 10,49 nghìn tấn, trị giá 50,78 triệu USD, tăng 75,9% về lượng và tăng 16,5% về trị giá so năm 2021. Ngoài lợn thịt đã giết mổ, Việt Nam còn xuất khẩu hơn 536,7 nghìn con lợn sữa đã qua giết mổ. Thịt lợn, tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh được xuất khẩu sang 6 thị trường, trong đó xuất khẩu sang thị trường Hồng Kông chiếm 67,46% tổng lượng thịt lợn, tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh của cả nước trong năm 2022.
Giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi trong 6 tháng đạt 232 triệu USD, tăng 26,5% so với cùng kỳ (trong đó xuất khẩu sữa và sản phẩm từ sữa đạt 65 triệu USD, tăng 9,9%; thịt và phụ phẩm dạng thịt ăn được sau giết mổ đạt 68 triệu USD, tăng 38,7% (TT. Chuyển đổi số và Thống kê NN). Lượng xuất khẩu thịt lợn sữa đông lạnh đạt hơn 19 nghìn tấn, trị giá đạt hơn 18,4 triệu USD, tăng 103,0% về lượng và tăng 117,0% về trị giá so với cùng kỳ năm trước. Thị trường chính là Hồng Kông, Malaysia…, trong đó Hồng Kông là thị trường xuất khẩu thịt lợn sữa đông lạnh lớn nhất của Việt Nam, với lượng xuất khẩu, tăng 13,0% về lượng và tăng 43,6% về trị giá so với cùng kỳ năm 2022. Thịt lợn, tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh (được xuất khẩu sang thị trường Papua New Guinea, Lào, Malaysia). Lượng lợn sống của Việt Nam xuất khẩu năm 2022 là 21.560 con và 6 tháng đầu năm 2023 đạt 6.833 con.
3.2.2. Đối với nhập khẩu sản phẩm
Năm 2022, Việt Nam nhập khẩu 114.123 tấn thịt lợn tươi ướp lạnh hoặc đông lạnh, trị giá 249,35 triệu USD, giảm 29,8% về lượng và giảm 33,6% về trị giá so với năm 2021.
Bảng 5. Nhập khẩu thịt lợn và phụ phẩm từ lợn năm 2022 và 6 tháng đầu năm 2023
(ĐVT – tấn, Nguồn AgroMonitor)
|
|
2021 |
2022 |
2023 (6 tháng) |
So sánh 2022/2021 (%) |
So sánh 6 tháng 2023/2022 (%) |
|
|
Cả năm |
6 tháng |
|||||
|
Thịt (tấn) |
167.336 |
114.123 |
45.071,5 |
41.482,9 |
62,8 |
92,0 |
|
Phụ phẩm ăn được từ lợn (tấn) |
123.452 |
69.316 |
25.879,3 |
46.070,6 |
56,1 |
178,0 |
Trong 6 tháng đầu năm 2023, lượng nhập khẩu thịt lợn đạt hơn 41,48 nghìn tấn giảm 8% về lượng so với cùng kỳ năm 2022. Các nước xuất khẩu thịt lợn vào Việt Nam chủ yếu là Nga (5 tháng đầu năm 2023, lượng nhập khẩu thịt lợn từ thịt trường Nga đạt gần 20,7 nghìn tấn, trị giá đạt hơn 46,7 triệu USD), Braxin (hơn 8 nghìn tấn, trị giá đạt hơn 17,7 triệu USD), Hà Lan (hơn 6,6 nghìn tấn, trị giá đạt hơn 7,8 triệu USD) và Đức (gần 14,5 nghìn tấn, trị giá đạt hơn 18,6 triệu USD). Tiếp theo còn một số thị trường khác như: Tây Ban Nha, Ba Lan, Canada…

Hình 9: Nhập khẩu thịt lợn của Việt Nam qua các tháng năm 2022 và 5 tháng 2023 (Nguồn: Tổng hợp từ Tổng cục Hải quan)
Đối với nhập khẩu lợn giống: Nhìn chung, những năm gần đây việc nhập khẩu giống vật nuôi có chiều hướng tăng, nhưng chưa nhiều. Đối với giống lợn nhập khẩu chủ yếu để làm tươi máu đàn lợn GGP và GP trong nước. Một số giống có năng suất, chất lượng bằng và cao hơn mức trung bình của thế giới, như Landrace, Yorkshire, Duroc có năng suất cao (chủ yếu là cấp giống cụ kỵ) được nhập vào Việt Nam hàng năm để làm mới nguồn gen di truyền đàn nái ngoại trong nước, nâng cao năng suất, chất lượng con giống trong nước. Cũng giống như nhiều nước, Việt Nam chủ yếu phụ thuộc vào nguồn giống cụ kỵ, ông bà của các tập đoàn giống lợn đa quốc gia để sản xuất cấp giống bố mẹ để sản xuất; hiện chưa có giống lợn ngoại nào do nước ta chọn tạo cạnh tranh được với các giống nhập ngoại.
Năm 2022, Cục Chăn nuôi đã tổ chức thẩm định và cấp phép nhập khẩu đối với 8 hồ sơ nhập khẩu tinh lợn với tổng số liều cấp phép là 58.135 liều tinh lợn sử dụng cho các trang trại chăn nuôi lợn cụ kỵ, ông, bà.
Bảng 6. Lượng lợn giống nhập khẩu về Việt Nam năm 2021-tháng 6/2023
(Nguồn Agromonitor)
|
Thế hệ lợn được nhập khẩu |
Nhập khẩu lợn giống |
|||||
|
2021 |
2022 |
2023 |
||||
|
Lợn cái |
Lợn đực |
Lợn cái |
Lợn đực |
Lợn cái |
Lợn đực |
|
|
Bố mẹ |
8.635 |
45 |
3.202 |
18 |
1.890 |
66 |
|
Cụ kỵ |
3.728 |
1.325 |
3.295 |
1.347 |
285 |
1.059 |
|
Ông bà |
1.446 |
200 |
30 |
10 |
|
5 |
|
Tổng |
13.809 |
1.570 |
6.527 |
1.375 |
2.175 |
1.130 |
Theo báo cáo của AgroMonitor, trong năm 2022, số lượng lợn giống nhập khẩu vào Việt Nam hơn 7,9 nghìn con, bằng 51,4% năm 2021 và bằng 17,5% năm 2020. Trong đó, lợn giống cụ kỵ nhập khẩu chiếm 58,7%, lợn giống bố mẹ chiếm 40,7%, còn lại là lợn ông bà (trong đó 6,53 nghìn con nái và 1,38 nghìn con đực giống).
Trong 6 tháng đầu năm 2023, giá trị nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi vào Việt Nam ước đạt 1.672 triệu USD, giảm 9,7% so với cùng kỳ năm 2022. Từ số liệu của AgroMonitor cho thấy, trong 6 tháng đầu năm 2023, tổng lượng lợn giống nhập khẩu về Việt Nam là 3305 con, trong đó, đực giống là 1130 con và cái giống là 2175 con.
Trích: Tài liệu Hội nghị Thực trạng phát triển chăn nuôi lợn và giải pháp phát triển bền vững trong tình hình mới do Cục Chăn nuôi tổ chức ngày 27/7/2023
- chăn nuôi lợn li> ul>
- Hội Chăn nuôi Việt Nam và Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế: Thúc đẩy phối hợp, chuẩn bị cho AAAP 2026
- Hướng dẫn mới về hồ sơ đăng ký xuất khẩu thực phẩm có nguồn gốc động vật sang Trung Quốc theo Nghị định 280
- Gỡ vướng thủ tục trong lĩnh vực nông nghiệp: Dabaco kiến nghị hoàn thiện chính sách về thức ăn chăn nuôi và an toàn thực phẩm
- FUJINUCO kỷ niệm chặng đường 15 năm phát triển, tiếp tục mở rộng hệ sinh thái ngành chăn nuôi
- Ứng dụng công nghệ chăn nuôi bò Hanwoo trong chăn nuôi bò H’Mông: Những kết quả bước đầu từ khảo sát thực địa tại Tuyên Quang
- Hội Chăn nuôi Thỏ Việt Nam kiến nghị giảm phí kiểm soát giết mổ, gỡ khó cho ngành chăn nuôi còn nhiều dư địa phát triển
- Chăn nuôi heo thông minh: Tối ưu hóa năng suất sinh sản
- Bản tin thị trường ngành thịt trong nước và thế giới tháng 6.2026
- AAAP 2026: Huy động trí tuệ toàn ngành hướng tới kỳ hội nghị chăn nuôi tầm vóc quốc tế
- Triển khai một số quy định mới về quản lý thức ăn chăn nuôi: Doanh nghiệp và người chăn nuôi cần đặc biệt lưu ý
Tin mới nhất
T5,09/07/2026
- Mô hình nuôi vịt Grimaud trên sàn nhựa: Hướng đi mới giúp nông dân giảm chi phí và tăng năng suất chăn nuôi
- Hội Chăn nuôi Việt Nam và Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế: Thúc đẩy phối hợp, chuẩn bị cho AAAP 2026
- Hướng dẫn mới về hồ sơ đăng ký xuất khẩu thực phẩm có nguồn gốc động vật sang Trung Quốc theo Nghị định 280
- Gỡ vướng thủ tục trong lĩnh vực nông nghiệp: Dabaco kiến nghị hoàn thiện chính sách về thức ăn chăn nuôi và an toàn thực phẩm
- Hiệu quả của kháng sinh Tylvalosin trên heo thịt khi đối diện thử thách với chủng virus PRRS tự nhiên
- Nhà máy TĂCN thông minh: Tích hợp tự động hóa, IoT và trí tuệ nhân tạo
- FUJINUCO kỷ niệm chặng đường 15 năm phát triển, tiếp tục mở rộng hệ sinh thái ngành chăn nuôi
- Ứng dụng công nghệ chăn nuôi bò Hanwoo trong chăn nuôi bò H’Mông: Những kết quả bước đầu từ khảo sát thực địa tại Tuyên Quang
- Hội Chăn nuôi Thỏ Việt Nam kiến nghị giảm phí kiểm soát giết mổ, gỡ khó cho ngành chăn nuôi còn nhiều dư địa phát triển
- Chăn nuôi heo thông minh: Tối ưu hóa năng suất sinh sản
- Ngành chăn nuôi heo trước thách thức mới trên hành trình phát triển bền vững
- Chuyên gia bàn giải pháp sử dụng kháng sinh có kiểm soát trong chăn nuôi
- Ngành sữa Việt Nam: Cơ hội “bứt phá” từ nội lực
- Dịch tả heo châu Phi: Hiện trạng và giải pháp kiểm soát hiệu quả (Phần 1)
- Bộ NN&MT mở đợt ‘truy quét’ việc lạm dụng chất kích tăng trưởng, tăng trọng
- Cargill rút khỏi ngành thức ăn thủy sản tại Việt Nam, đóng cửa nhà máy tại Đồng Tháp và Long An
- Chăn nuôi dê bền vững theo chuỗi giá trị: Chủ nhà hàng là mắt xích quan trọng
- Da khỏe, lông đẹp: Chiến lược dinh dưỡng hiệu quả cho heo con sau cai sữa
- Lo ngại bệnh than, Campuchia ngừng nhập một số sản phẩm từ Thái Lan
- Cạn tiền, một công ty tại Nam Phi phải tiêu hủy hơn 350.000 con gà






















Bình luận mới nhất