Chăn nuôi gia cầm quý I/2026: Áp lực dư cung bủa vây - Chăn nuôi Việt Nam
    • Giá heo (lợn) hơi miền Bắc từ 60.000 - 70.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hà Nội 69.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hưng Yên 70.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Trung và Tây Nguyên từ 68.000 - 72.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Quảng Trị 70.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Thanh Hóa 68.000đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Lâm Đồng 72.000đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Nam từ 69.000 - 72.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Đồng Nai 72.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Cà Mau 70.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Đồng Tháp 71.000 đ/kg
    •  
  • Chăn nuôi gia cầm quý I/2026: Áp lực dư cung bủa vây

    [Chăn nuôi Việt Nam] – Bước vào năm bản lề 2026, ngành chăn nuôi gia cầm Việt Nam đối mặt với nghịch lý cung vượt cầu trên diện rộng, kéo giá sản phẩm giảm sâu, nhiều phân khúc rơi dưới giá thành. Trong bối cảnh đó, biến động thị trường xuất khẩu, chi phí TĂCN gia tăng và các yêu cầu ngày càng khắt khe về môi trường, an toàn thực phẩm đang định hình lại cục diện ngành.

     

    Cung vượt cầu kéo giá gia cầm lao dốc

     

    Theo tổng hợp từ báo cáo thị trường quý I/2026 từ AgroMonitor, diễn biến nổi bật nhất của ngành gia cầm là tình trạng dư cung trên diện rộng, khiến giá cả các sản phẩm từ thịt đến trứng đồng loạt giảm mạnh. Áp lực này xuất phát từ việc tổng đàn gia cầm tăng nhanh trong năm 2025 và tiếp tục duy trì ở mức cao đầu năm 2026, trong khi sức tiêu thụ nội địa và xuất khẩu không tăng tương ứng.

     

    Đặc biệt, phân khúc gà trắng ghi nhận mức giảm giá sâu nhất. Cuối quý I/2026, giá gà trắng thịt đã rơi xuống dưới giá thành sản xuất, khiến nhiều doanh nghiệp và hộ chăn nuôi chịu thua lỗ. Đây là hệ quả trực tiếp của việc gia tăng mạnh nguồn cung con giống một ngày tuổi (DOC), với mức tăng 5% so với quý trước và từ 12-20% so với cùng kỳ năm 2025, tùy theo khu vực.

     

    Trong khi đó, giá gà màu cũng không tránh khỏi xu hướng giảm. Cả gà nuôi ngắn ngày và dài ngày đều giảm giá từ cuối năm 2025 sang quý I/2026. Tuy nhiên, có sự phân hóa rõ rệt giữa hai miền: miền Bắc vẫn duy trì quanh ngưỡng hòa vốn, trong khi miền Nam chịu áp lực dư cung lớn hơn nên nhiều khu vực đã rơi vào vùng thua lỗ.

     

    Xuất khẩu suy giảm, thị trường Campuchia biến động mạnh

     

    Một trong những nguyên nhân quan trọng làm trầm trọng thêm tình trạng dư cung là sự suy giảm của thị trường xuất khẩu, đặc biệt là Campuchia – thị trường tiêu thụ gia cầm lớn của Việt Nam. Từ cuối năm 2025, xuất khẩu sản phẩm gia cầm (bao gồm gà thịt và trứng) sang Campuchia giảm mạnh do nước này từng bước chủ động được nguồn cung nội địa, đồng thời gia tăng nhập khẩu con giống từ Việt Nam để phát triển sản xuất trong nước. Điều này khiến nhu cầu nhập khẩu sản phẩm hoàn chỉnh giảm đáng kể.

     

    Hệ quả là giá gà màu nuôi ngắn ngày và giá trứng tại Việt Nam, nhất là khu vực miền Nam, bị kéo giảm sâu. Đối với trứng gà, việc xuất khẩu suy yếu trong quý IV/2025 đã khiến giá giảm mạnh, chỉ bắt đầu phục hồi nhẹ từ cuối quý I/2026 khi nhu cầu từ Campuchia tăng trở lại.

     

    Đáng chú ý, hoạt động xuất khẩu gà giống và gà thịt cả chính ngạch và tiểu ngạch đều giảm trong quý I/2026, làm giảm khả năng “giải phóng” nguồn cung trong nước. Đây là yếu tố then chốt khiến thị trường nội địa chịu áp lực lớn hơn.

     

    Hình 1. Xuất khẩu DOC và gà trắng thịt kênh chính ngạch lẫn tiểu ngạch đều giảm mạnh trong quý I/2026

     

    Nhập khẩu điều chỉnh, nhưng chưa đủ cân bằng thị trường

     

    Ở chiều ngược lại, nhập khẩu thịt gà có xu hướng giảm, đặc biệt dự kiến rõ nét từ quý II/2026. Nguyên nhân chủ yếu đến từ ba yếu tố: giá gà nội địa giảm sâu, chi phí vận tải quốc tế tăng cao và biến động tỷ giá.

     

    Cước container tăng mạnh theo giá dầu cùng với tỷ giá USD neo cao khiến chi phí nhập khẩu gia tăng, làm giảm sức cạnh tranh của thịt gà ngoại. Tuy nhiên, mức giảm nhập khẩu này chưa đủ lớn để bù đắp tình trạng dư cung trong nước, do quy mô sản xuất nội địa đã tăng mạnh trước đó.

     

    Đối với con giống, sau khi bùng nổ trong năm 2025, nhập khẩu gà giống bắt đầu chững lại trong quý I/2026, đặc biệt ở phân khúc gà màu và gà đẻ trứng. Tuy nhiên, nhập khẩu gà trắng vẫn duy trì ở mức cao, tiếp tục góp phần làm gia tăng nguồn cung trong nước.

     

    Hình 2. Nhập khẩu thịt gà có xu hướng giảm, đặc biệt từ quý II/2026 do ảnh hưởng của giá gà nội địa giảm sâu cùng cước container tăng mạnh theo giá dầu và sự gia tăng của tỷ giá

     

    Dự báo quý II/2026: Nguy cơ dư cung tiếp tục gia tăng

     

    Dự báo cho quý II/2026 cho thấy áp lực dư cung chưa có dấu hiệu hạ nhiệt, thậm chí có thể trầm trọng hơn ở một số phân khúc.

     

    Nguồn cung gà trắng dự kiến tiếp tục tăng, với tổng lượng DOC tăng nhẹ hơn 2% so với quý I nhưng tăng hơn 20% so với cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý, mức tăng chủ yếu đến từ khu vực miền Nam, trong khi miền Bắc có xu hướng giảm nhẹ. Nếu hoạt động xuất khẩu không cải thiện như kỳ vọng, đặc biệt là sang Campuchia, giá gà trắng tại miền Nam sẽ khó có khả năng phục hồi trong ngắn hạn.

     

    Đối với gà màu, nguồn cung được dự báo “bùng nổ” trong quý II/2026, tăng tới 14-15% so với cả quý trước và cùng kỳ năm trước – mức cao nhất từ trước đến nay. Điều này tiềm ẩn nguy cơ dư cung nghiêm trọng, có thể kéo giá tiếp tục giảm sâu.

     

    Ở phân khúc trứng, nhu cầu tiêu thụ thường giảm vào mùa hè, khiến lượng gà mái đẻ (DOL) dự kiến giảm trong quý II. Tuy nhiên, nếu xuất khẩu trứng sang Campuchia tiếp tục phục hồi, thị trường có thể được hỗ trợ phần nào.

     

    Chi phí TĂCN tăng: Áp lực kép lên người nuôi

     

    Bên cạnh bài toán thị trường, người chăn nuôi còn phải đối mặt với áp lực chi phí đầu vào gia tăng, đặc biệt là TĂCN.

     

    Từ đầu tháng 3/2026, căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông đã đẩy giá phân bón và nguyên liệu nông sản tăng mạnh. Điều này kéo theo giá ngũ cốc nguyên liệu chính sản xuất TĂCN tăng, làm chi phí sản xuất gia cầm bị đội lên.

     

    Mặc dù, mức tăng chưa đạt đến đỉnh như giai đoạn xung đột Nga – Ukraine năm 2022, nhưng nếu tình hình kéo dài, nguy cơ khủng hoảng nguồn cung nông sản toàn cầu là hoàn toàn có thể xảy ra. Việc thiếu hụt phân bón tại các quốc gia sản xuất lớn như Hoa Kỳ, Trung Quốc, EU, Ấn Độ… sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và sản lượng vụ mùa.

     

    Ngoài ra, xu hướng gia tăng sử dụng ngũ cốc cho sản xuất nhiên liệu sinh học (ethanol, biodiesel) trong bối cảnh giá năng lượng cao cũng làm gia tăng cạnh tranh nguồn nguyên liệu, tiếp tục đẩy giá TĂCN tăng. Điều này tạo ra “áp lực kép” cho ngành gia cầm: giá bán giảm trong khi chi phí sản xuất tăng, làm biên lợi nhuận bị thu hẹp đáng kể, thậm chí âm ở nhiều mô hình.

     

    Cơ hội từ chênh lệch giá với thịt heo

     

    Dù đối mặt nhiều thách thức, ngành gia cầm vẫn có một số điểm sáng đáng chú ý. Trong đó, giá sản phẩm gia cầm hiện thấp hơn tương đối so với thịt heo, tạo lợi thế cạnh tranh trong tiêu dùng. Sự chênh lệch này có thể thúc đẩy nhu cầu tiêu thụ gia cầm trong nước, đặc biệt trong bối cảnh người tiêu dùng ngày càng nhạy cảm với giá cả. Nếu xu hướng này được duy trì, đây sẽ là yếu tố hỗ trợ quan trọng giúp thị trường gia cầm dần cân bằng trở lại.

     

    Ngoài ra, việc chi phí chăn nuôi tại Campuchia tăng mạnh (điện, nước, thức ăn…) cũng có thể làm giảm động lực sản xuất nội địa của nước này, qua đó mở ra cơ hội phục hồi xuất khẩu gia cầm Việt Nam trong các quý tới.

     

    Năm 2026 cũng đánh dấu giai đoạn đầu triển khai kế hoạch phát triển 2026-2030, trong đó các yêu cầu về môi trường và an toàn vệ sinh thực phẩm được siết chặt hơn. Điều này đặt ra áp lực tái cấu trúc đối với ngành gia cầm. Các mô hình chăn nuôi nhỏ lẻ, thiếu kiểm soát sinh học sẽ ngày càng khó tồn tại, nhường chỗ cho các hệ thống chăn nuôi khép kín, ứng dụng công nghệ cao và đảm bảo truy xuất nguồn gốc.

     

    Các yếu tố như ATSH, kiểm soát dịch bệnh, xử lý chất thải và minh bạch chuỗi cung ứng sẽ trở thành điều kiện tiên quyết. Đây không chỉ là yêu cầu quản lý, mà còn là điều kiện để tiếp cận các thị trường xuất khẩu chất lượng cao.

     

    Bên cạnh đó, việc tăng cường kiểm soát giết mổ, chế biến và lưu thông sản phẩm cũng sẽ tác động mạnh đến chuỗi giá trị gia cầm, buộc các doanh nghiệp phải đầu tư bài bản hơn.

     

    Triển vọng 2026: Thận trọng nhưng không bi quan

     

    Trước bối cảnh nhiều biến động, ngành gia cầm cần tập trung vào một số giải pháp trọng tâm:

    • Thứ nhất, kiểm soát quy mô đàn hợp lý. Việc tăng đàn cần gắn với tín hiệu thị trường, tránh tình trạng phát triển nóng dẫn đến dư cung.
    • Thứ hai, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu. Giảm phụ thuộc vào một thị trường như Campuchia, mở rộng sang các thị trường tiềm năng khác trong khu vực.
    • Thứ ba, tối ưu chi phí sản xuất. Tăng cường sử dụng nguyên liệu thay thế, nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn, ứng dụng công nghệ để giảm chi phí.
    • Thứ tư, phát triển chuỗi giá trị khép kín. Từ con giống, thức ăn, chăn nuôi đến giết mổ, chế biến và phân phối, nhằm nâng cao giá trị gia tăng và khả năng kiểm soát rủi ro.
    • Thứ năm, đẩy mạnh chăn nuôi bền vững. Đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường và VSATTP, hướng tới phát triển lâu dài và hội nhập quốc tế.

     

    Tổng thể, năm 2026 được dự báo là một năm nhiều thách thức đối với ngành gia cầm Việt Nam, với áp lực dư cung, chi phí tăng và thị trường biến động. Tuy nhiên, nếu kiểm soát tốt quy mô sản xuất, tận dụng cơ hội từ chênh lệch giá với các loại thịt khác, đồng thời mở rộng thị trường xuất khẩu, ngành vẫn có khả năng phục hồi trong nửa cuối năm. Về dài hạn, xu hướng chuyển dịch sang chăn nuôi an toàn, bền vững và ứng dụng công nghệ cao sẽ là chìa khóa để ngành gia cầm Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh, thích ứng với biến động và phát triển ổn định.

     

    Hình 3. Các kịch bản giá vốn chăn nuôi gia cầm dựa trên tình hình chiến tranh tại Trung Đông

     

    T.H (Nguồn: AgroMonitor)

    Để lại comment của bạn

    Bình luận mới nhất

  • Đỗ Thị Hồng Thắm
  • Cùng quan điểm với chị Kim Oanh: Chúng em cũng là thú y xã, được tuyển theo Nghị quyết 51. Cũng là người làm công tác thú y xã tới bây giờ là 12 năm rồi. Việc Nghị quyết 51 ra đời với mức phụ cấp 2.34*1.5 cũng bởi thú y bao nhiêu năm đã thiệt thòi rồi. Và mức phụ cấp đó là cứng chứ không còn thêm một khoản nào nữa. Nhưng mọi người ở xã thì cứ vin vào mức phụ cấp mới vào đã cao rồi nên bắt bẻ đủ kiểu. Địa bàn quản lý thì tăng lên gấp 2-3 lần, không có chi thường xuyên, không được ký hợp đồng, không được đóng bhyt và bhxh, đi làm đủ ngày 8 tiếng và những đợt tiêm phun thì còn phải làm cả ngoài giờ. So với các anh chị công chức, viên chức làm ngần ấy năm thì giờ họ lên bậc bao nhiêu rồi? chi thường xuyên, công tác phí, tiền làm thêm giờ, chế độ bảo hiểm của họ, tiền trợ cấp độc hại, thu nhập tăng thêm theo Luật thủ đô...là bao nhiêu rồi? Vậy mà đến giờ còn định bảo đi tiêm không có công, trong khi trước đó công đã rất thấp rồi. Báo trưởng thôn phối hợp thì công chức lại nhảy lên các em lương cao phải tự đi thống kê. Dạ xin thưa là nếu không có người của thôn đi cùng thì dân người ta cũng chẳng phối hợp đâu ạ, người ta biết thú y thật hay giả mà cung cấp thông tin và số liệu, họ bảo biết đâu lừa đảo thì sao. Thêm nữa có phải ban ngày nhà nào cũng có ở nhà đâu, họ còn đi làm chứ. Bảo thú y đi từng nhà hỏi chắc cả năm không đi hỏi hết hàng nghìn, hàng chục nghìn đầu nhà đâu ạ. Mong được cấp trên quan tâm, chỉ đạo và cân nhắc chế độ để anh em thú y xã bớt thiệt thòi

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Theo UBND xã Minh Châu – Ba Vì – Hà Nội, xác định lợi thế về đất đai, khí hậu nên những năm qua đã đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp là chính, trong đó xã tập trung đến phát triển chăn nuôi bò sinh sản, bò thịt. […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Trong bối cảnh bệnh Dịch tả lợn châu Phi (DTLCP) đã xảy ra tại TP Hồ Chí Minh, thành phố càng nỗ lực thực hiện các biện pháp kiểm soát chăn nuôi, giết mổ và tiêu thụ gắt gao. Hơn nữa, khảo sát một đêm tại thị trường […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Anh Trần Văn Toản, ở khu vực Bình Yên B, phường Long Hòa, quận Bình Thủy, TP. Cần Thơ là người đầu tiên ở Đồng bằng sông Cửu Long mở trang trại nuôi chim công rất thành công mà cho thu nhập hơn 200 triệu đồng/năm.   1/ […]

    • Giống chim này có khả năng thích ứng cao với điều kiện khí hậu ở nước ta, tỷ lệ nuôi sống đạt 94-99%.

    • Để đàn gà sinh trưởng phát triển tốt có tỷ lệ sống cao cần thực hiện tốt kỹ thuật úm gà con

    • Việt Nam cùng với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ… là những nước đã nuôi trồng thành công đông trùng hạ thảo.

    • Gà vảy cá được mệnh danh là “mỹ kê” đã được nhiều đại gia Việt sẵn sàng chi tiền triệu để hữu cặp gà vảy cá đẹp.

    • Cừu chính là loài vật nuôi thích hợp với những điều kiện khắc nghiệt của vùng đất Ninh Thuận.

    • Nghề nuôi chim cút đẻ hiện đang phổ biến ở rất nhiều hộ gia đình tại các địa phương và mang lại hiệu quả kinh tế khá.

    • Tỉnh Phú Thọ với địa hình đa dạng: nhiều gò, đồi thấp, dải đồng bằng thuận lợi cho chăn nuôi, trong đó, có chăn nuôi gà lông màu.