Tóm tắt
Thí nghiệm được tiến hành nhằm đánh giá hiệu quả của việc bổ sung bã sắn lên men (BSLM) vào khẩu phần ăn của lợn thịt. 144 lợn F1(LxY) có khối lượng trung bình từ 19,8-20,41 (kg) được phân bố ngẫu nhiên vào 4 lô thí nghiệm (ĐC, TN1, TN2, TN3) tương ứng với mức 0, 10, 20, 30% BSLM trong khẩu phần. Mỗi lô thí nghiệm 36 con với 12 con/ô thí nghiệm và lặp lại 3 lần. Kết quả cho thấy, ở TN2 (bổ sung 20% BSLM) có ảnh hưởng tốt nhất đến tăng khối lượng và chuyển hóa thức ăn của lợn thí nghiệm. Ở giai đoạn từ lúc bắt đầu thí nghiện đến 50kg và giai đoạn từ 50kg đến xuất chuồng, tăng khối lượng trung bình hàng ngày (g/con/ngày) tăng tương ứng 8,97 và 34,46% so với lô đối chứng. Tiêu tốn thức ăn ở 2 giai đoạn thí nghiệm tương ứng là 2,10 và 2,45kg TA/kg TKL. Việc bổ sung BSLM vào khẩu phần ăn không làm ảnh hưởng đến năng suất thân thịt.
Mở đầu
Mặc dù là nước sản xuất và xuất khẩu lương thực nằm ở tốp đầu thế giới, song ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi nước ta vẫn phải nhập khẩu 80-90% nguyên liệu thức ăn từ nước ngoài, dođó đã làm tăng giá thành sản xuất, giảm khả năng cạnh tranh. Đã có nhiều nghiên cứu tận dụng phụ phẩm công nông nghiệp làm thức ăn chăn nuôi, trong đó có nguồn phụ phẩm từ quá trình chế biến lương thực, thực phẩm như rơm rạ, bã sắn, lõi ngô, bã rong riềng…
Ở nước ta, do sắn không chỉ là nguồn lương thực, thực phẩm cho con người và gia súc mà còn là nguồn nguyên liệu quan trọng có giá trị cho các ngành công nghiệp khác như: dệt, ương thực, dược, chế biến nước giải khát, cồn… nên cây sắn đã và đang được trồng khắp các tỉnh trung du, miền núi phía Bắc và cao nguyên Nam Bộ với tổng diện tích năm 2019 trên cả nước đạt 513 nghìn ha (Tổng cục thống kê, 2019). Chính vì vậy, lượng bã sắn trong quá trình sản xuất tinh bột sắn là khá lớn, trung bình khoảng 45% so với khối lượng sắn nguyên củ (Bùi Quang Tuấn, 2005).
Theo ước tính, khoảng 250-300 tấn củ tươi qua chế biếnsẽ tạo ra 1,6 tấn bột và thải ra 280 tấn bã có độ ẩm cao (85%) (Pandey và ctv, 2000). Phần lớn lượng bã sắn này được thải ra ngoài môi trường gây lãng phí và ô nhiễm nghiêm trọng. Chỉ một số ít được sử dụng làm thức ăn chăn nuôi. Tuy nhiên, cũng như nhiều phụ phẩm nông nghiệp khác, bã sắn thường có một số hạn chế như hàm lượng protein thấp, hàm lượng carbohydrate như polysaccharide không phải tinh bột (cellulose, hemicellulose, pectin và lignin) không tiêu hóa được và các chất kháng dinh dưỡng như cyanua, tannin và phytate lại tương đối cao (Aro, 2008). Do đó, khi sử dụng làm thức ăn chăn nuôi khả năng tiêu hóa thấp, lượng thức ăn ăn vào ít và giảm khả năng sản xuất của động vật. Việc chế biến bằng công nghệ lên men có thể chuyển bã sắn thành nguồn thức ăn chăn nuôi có giá trị dinh dưỡng cao, có khả năng cạnh tranh được với các nguyên liệu nhập khẩu là rất cần thiết. Xuất phát từ thực tế đó, tiếp theo các nghiên cứu liên quan đến lên men bã sắn đã thực hiện, nghiên cứu tiến hành nhằm đánh giá ảnh hưởng của việc bổ sung bã sắn lên men vào khẩu phần ăn đến năng suất chăn nuôi lợn thịt.
Kết luận
Mức sử dụng BSLM trong khẩu phần thức ăn đã ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn của lợn. Ở mức 20% BSLM cho hiệu quả tốt nhất, TKL cơ thể tăng 8,97 và 34,46% so với lô ĐC ở giai đoạn 20- 50kg và giai đoạn 50-xuất bán. TTTA ở giai đoạn 20-50kg và 50kg-xuất chuồng là 2,1 và 2,45. Sử dụng 20% BSLM trong khẩu phầnăn đã làm tăng KL móc hàm và KL thịt xẻ lên 11,15 và 11,19% so với lô ĐC. Các chỉ tiêu khác về năng suất thân thịt không có sự sai khác giữa các lô TN v à so với lô ĐC. Có thể sử dụng BSLM làm thức ăn trong chăn nuôi lợn thịt để tăng hiệu quả chăn nuôi.
Dương Thu Hương1, Vũ Văn Hạnh2, Hà Xuân Bộ1 và Phạm Kim Đăng1*
1 Học viện Nông nghiệp Việt Nam
2 Viện Công nghệ sinh học-Viện Hàn lâm KHCN Việt Nam
* Tác giả liên hệ: PGS.TS. Phạm Kim Đăng, Trưởng Khoa Khoa Chăn nuôi, Học viện Nông nghiệp Việt Nam; Email: pkdang@vnua.edu.vn
- lợn thịt li>
- bã sắn lên men li> ul>
- Nhũ hoá chất béo giúp tận dụng tối đa năng lượng khẩu phần
- Tỷ lệ nhiễm và các yếu tố đề kháng kháng sinh của SALMONELLA SPP trên vịt ở Đồng bằng sông Cửu Long
- Protease: Sẵn sàng cho thế giới hậu kháng sinh
- Lịch sử, hiện trạng và xu hướng phát triển của nghề nuôi thú cảnh (PET)
- Cách giảm thiểu tiêu chảy do Rotavirus ở heo con
- Axit Formic: Dùng sao cho đúng và các lựa chọn thay thế
- Tác động của thức ăn côn trùng và vi tảo đến chất lượng thịt gà
- Công nghệ phức hợp miễn dịch và tái tổ hợp trong nhà máy ấp
- 5 yếu tố cần xem xét trong một chương trình chăn nuôi heo không kháng sinh
- Bệnh bại liệt ở chó
Tin mới nhất
T4,04/03/2026
- Sơn La: Phát triển mô hình vịt cổ xanh bản địa
- Đắk Lắk: Xây dựng hệ sinh thái chăn nuôi theo hướng bền vững
- Sơn La: Phát triển chăn nuôi gia súc theo hướng bền vững, hiệu quả
- Tập đoàn TH: Phát động cuộc thi “TH trong tôi – Ngày ấy và Bây giờ”
- Website aaap2026.org chính thức ra mắt, tăng tốc cho Hội nghị Chăn nuôi Á – Úc 2026
- Bộ Công Thương khuyến nghị một số giải pháp nhằm giảm thiểu tác động của xung đột giữa Hoa Kỳ, Israel – Iran và khu vực Trung Đông
- Xuất khẩu thịt lợn Hoa Kỳ năm 2025 đạt 8,4 tỷ USD, giữ vị trí cao thứ hai lịch sử
- Trung Đông bốc lửa, Cục Xuất nhập khẩu đưa ra loạt khuyến nghị khẩn
- Bản tin thị trường ngành thịt trong nước và thế giới tháng 02/2026
- Hội Thú y triển khai chiến dịch “Vì Việt Nam không còn bệnh dại”
- AChaupharm: Nấm phổi gia cầm, hiểm họa thầm lặng khi giao mùa
- Chuyên gia bàn giải pháp sử dụng kháng sinh có kiểm soát trong chăn nuôi
- Ngành sữa Việt Nam: Cơ hội “bứt phá” từ nội lực
- Dịch tả heo châu Phi: Hiện trạng và giải pháp kiểm soát hiệu quả (Phần 1)
- Bộ NN&MT mở đợt ‘truy quét’ việc lạm dụng chất kích tăng trưởng, tăng trọng
- Cargill rút khỏi ngành thức ăn thủy sản tại Việt Nam, đóng cửa nhà máy tại Đồng Tháp và Long An
- Chăn nuôi dê bền vững theo chuỗi giá trị: Chủ nhà hàng là mắt xích quan trọng
- Da khỏe, lông đẹp: Chiến lược dinh dưỡng hiệu quả cho heo con sau cai sữa
- Lo ngại bệnh than, Campuchia ngừng nhập một số sản phẩm từ Thái Lan
- Cạn tiền, một công ty tại Nam Phi phải tiêu hủy hơn 350.000 con gà























Bình luận mới nhất