Tình hình nhập khẩu TACN&NL 11 tháng năm 2022 và dự báo - Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam
    • Giá heo (lợn) hơi miền Bắc từ 51.000 - 54.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Yên Bái, Lào Cai 51.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hưng Yên 54.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Trung và Tây Nguyên từ 51.000 - 52.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi  Đắk Lắk 51.0000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi  Thanh Hóa 52.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Bình Thuận 52.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Nam từ 51.000 - 53.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Cần Thơ 52.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Cà Mau 53.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Kiên Giang 51.000 đ/kg
    •  
  • Tình hình nhập khẩu TACN&NL 11 tháng năm 2022 và dự báo

    [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Giá nhập khẩu trung bình nhiều mặt hàng TACN&NL trong tháng 10/2022 giảm so với tháng trước như: Khô đậu tương, DDGS, bột thịt xương, bột gia cầm, bột cá, khô hạt cải, bột lông vũ…

     

     

    1.Thế giới:

     

    USDA đã đưa ra dự báo mới nhất về cung cầu khô hạt có dầu toàn cầu trong niên vụ 2022/23, theo đó, sản lượng đạt 365,8 triệu tấn, giảm 0,2 triệu tấn so với dự báo trước nhưng tăng 15,6 triệu tấn so với niên vụ 2021/22.

     

    Trong đó, sản lượng khô hạt có dầu tại Trung Quốc đạt mức cao nhất là 95,2 triệu tấn, tương đương với dự báo trước và tăng 6,7 triệu tấn so với niên vụ 2020/21.

     

    Sản lượng khô hạt có dầu của Mỹ đạt 50,5 triệu tấn, tăng 0,2 triệu tấn so với dự báo trước và tăng 1,2 triệu tấn so với niên vụ trước.

     

    Sản lượng khô hạt có dầu của Braxin và Achentina lần lượt đạt 42,3 triệu tấn và 32,7 triệu tấn, tăng 0,8 triệu tấn và 0,9 triệu tấn so với niên vụ trước. Sản lượng khô hạt có dầu của EU đạt 31,7 triệu tấn, tăng 0,9 triệu tấn so với niên vụ trước.

     

    Lượng khô hạt có dầu tồn kho cuối kỳ toàn cầu niên vụ 2022/23 dự kiến đạt 18,9 triệu tấn, giảm 0,2 triệu tấn so với dự báo trước nhưng tăng 1,5 triệu tấn so với niên vụ trƣớc. Trong đó, tồn kho khô hạt có dầu của Achentina đạt 3 triệu tấn, tăng nhẹ so với niên vụ trước; Tồn kho của Braxin đạt 3,9 triệu tấn, tăng 0,2 triệu tấn so với niên vụ trước…

     

    Dự kiến nhu cầu nhập khẩu khô hạt có dầu của thế giới niên vụ 2022/23 đạt 91,4 triệu tấn, tương đương với dự báo trước nhưng tăng 0,7 triệu tấn so với niên vụ trước.

     

    Lượng xuất khẩu khô hạt có dầu của thế giới đạt 97,7 triệu tấn, tương đương với dự báo trước và tăng 2,2 triệu tấn so với niên vụ 2021/22.

     

    Dự kiến nhu cầu tiêu thụ khô hạt có dầu của thế giới niên vụ 2022/23 đạt 358 triệu tấn, tăng 0,3 triệu tấn so với dự báo trước và tăng 12 triệu tấn so với niên vụ trước do nhu cầu tiêu thụ làm thức ăn chăn nuôi tại một số quốc gia như: Trung Quốc, Mỹ, Braxin… tăng.

     

    2. Trong nước:

     

    Theo ước tính, kim ngạch nhập khẩu TACN&NL về Việt Nam trong tháng 11/2022 đạt 650 triệu USD, tăng 61,7% so với tháng trước và tăng 78,4% so với tháng 11/2021. Tính chung 11 tháng năm 2022, kim ngạch nhập khẩu TACN&NL ước đạt 5,16 tỷ USD, tăng 14,6% so với cùng kỳ năm 2021.

    Theo số liệu thống kê sơ bộ, lƣợng nhập khẩu TACN&NL về Việt Nam trong tháng 10/2022 đạt 750,2 nghìn tấn, trị giá 402,1 triệu USD, tăng 3,5% về lượng nhưng giảm 2,3% về trị giá so với tháng trước, giảm 13,8% về lượng nhưng tăng 3,1% về trị giá so với tháng 10/2021. Tính chung 10 tháng năm 2022, lƣợng nhập khẩu TACN&NL đạt 8,28 triệu tấn, trị giá 4,51 tỷ USD, giảm 5% về lượng nhưng tăng 9% về trị giá so với cùng kỳ năm 2021.

     

    Dự kiến lượng nhập khẩu nhóm hàng TACN&NL về Việt Nam năm 2022 đạt gần 10 triệu tấn, trị giá 5,4 tỷ USD, giảm 4% về lượng nhưng tăng 8% về trị giá so với năm 2021.

     

    Trong tháng 10/2022, Việt Nam nhập khẩu 27 chủng loại TACN&NL, tăng 1 chủng loại so với tháng trước. Lượng nhập khẩu một số chủng loại giảm mạnh so với tháng trước như: DDGS, bột gia cầm, bột lông vũ…

     

    Trong khi đó, lượng nhập khẩu một số chủng loại tăng mạnh so tháng trước như: Chất tổng hợp, khô dầu cọ, khô hạt cải, cám gạo, cám ngô…

     

    Giá nhập khẩu trung bình nhiều mặt hàng TACN&NL trong tháng 10/2022 giảm so với tháng trước như: Khô đậu tương, DDGS, bột thịt xương, bột gia cầm, bột cá, khô hạt cải, bột lông vũ … Giá nhập khẩu một số chủng loại tăng so với tháng trước như: Cám mỳ, khô dầu cọ, bột gan mực…

    + Nhóm khô hạt có dầu:

     

    Mặt hàng khô đậu tương:

     

    Lượng nhập khẩu khô đậu tương về Việt Nam trong tháng 10/2022 đạt 307,6 nghìn tấn, trị giá 180,7 triệu USD, giảm 2,6% về lƣợng và giảm 3,9% về trị giá so với tháng trước, giảm 23,7% về lƣợng và giảm 4,4% về trị giá so với tháng 10/2021. Tính chung 10 tháng năm 2022, lượng nhập khẩu khô đậu tương về Việt Nam đạt 3,94 triệu tấn, trị giá 2,22 tỷ USD, giảm 7,1% về lượng nhưng tăng 4,2% về trị giá so với cùng kỳ năm 2021, chiếm 47,6% về lƣợng và 49,2% về trị giá trong tổng nhập khẩu TACN&NL về Việt Nam.

     

    Thị trường cung cấp chính khô đậu tương là Nam Mỹ và Mỹ. Giá nhập khẩu trung bình khô đậu tương trong tháng 10/2022 ở mức 587 USD/tấn, giảm 1,4% so với tháng trước nhưng tăng 25,2% so với tháng 10/2021.

     

    Lượng nhập khẩu khô đậu tương về Việt Nam trong năm 2022 dự kiến đạt 4,7 triệu tấn, trị giá 2,65 tỷ USD, giảm 6% về lượng nhưng tăng 6% về trị giá so với năm 2021.

    Khô dầu cọ:

     

    Lượng nhập khẩu khô dầu cọ tăng mạnh trong tháng 10/2022, đạt 61,1 nghìn tấn, trị giá 10,5 triệu USD, tăng 49,1% về lƣợng và tăng 54% về trị giá so với tháng trước, giảm 4,8% về lượng và giảm 16,8% về trị giá so với tháng 10/2021. Giá nhập khẩu trong tháng 10/2022 đạt 171 USD/tấn, tăng 3,3% so với tháng trước nhưng giảm 12,6% so với tháng 10/2021.

     

    Tính chung 10 tháng năm 2022, lƣợng nhập khẩu mặt hàng khô dầu cọ đạt 469,5 nghìn tấn, trị giá 101,1 triệu USD, giảm 8,2% về lượng nhưng tăng 6,9% về trị giá so với cùng kỳ năm 2021. Thị trường cung cấp chính mặt hàng khô dầu cọ là Indonesia (đạt 421,3 nghìn tấn) và Malaysia (đạt 27,4 nghìn tấn).

     

    Mặt hàng khô hạt cải:

     

    Lượng nhập khẩu khô hạt cải trong tháng 10/2022 đạt 22,1 nghìn tấn, trị giá 7,1 triệu USD, tăng 34% về lượng và tăng 28,7% về trị giá so với tháng trước, tăng 84,4% về lượng và tăng 58,4% về trị giá so với tháng 10/2021. Giá nhập khẩu trong tháng 10/2022 đạt 321 USD/tấn, giảm 3,9% so với tháng trước và giảm 14,1% so với tháng 10/2021. Tính chung 10 tháng năm 2022, lượng nhập khẩu mặt hàng khô hạt cải đạt 215,6 nghìn tấn, trị giá 83,1 triệu USD, giảm 15,8% về lượng và giảm 7,8% về trị giá so với cùng kỳ năm 2021. Thị trường cung cấp chính mặt hàng khô hạt cải là Ấn Độ, UAE, Pakixtan…

     

    + Nhóm bột protein thực vật:

     

    Trong tháng 10/2022, lượng nhập khẩu DDGS đạt 118,3 nghìn tấn, trị giá 43,6 triệu USD, giảm 20,4% về lượng và giảm 27,4% về trị giá so với tháng trước, giảm 16,6% về lượng và giảm 3,8% về trị giá so với tháng 10/2021. Giá nhập khẩu trung bình DDGS trong tháng 10/2022 ở mức 368 USD/tấn, giảm 8,8% so với tháng trước nhưng tăng 15,3% so với tháng 10/2021. Tính chung 10 tháng năm 2022, lượng nhập khẩu mặt hàng DDGS đạt 1,12 triệu tấn, trị giá 418,5 triệu USD, tăng 0,8% về lượng và tăng 21,1% về trị giá so với cùng kỳ năm 2021. Nhập khẩu DDGS trong 10 tháng năm 2022 chiếm 13,5% về lượng và 9,3% về trị giá trong tổng lượng TACN&NL nhập khẩu về Việt Nam. Thị trƣờng cung cấp chính là Mỹ.

     

    Trong tháng 10/2022, lượng nhập khẩu cám gạo tăng mạnh trong tháng 10/2022, đạt 24 nghìn tấn, trị giá 5,8 triệu USD, tăng 125,1% về lượng và tăng 125,2% về trị giá so với tháng trước, giảm 64,1% về lượng và giảm 55,8% về trị giá so với tháng 10/2021. Giá nhập khẩu trung bình cám gạo trong tháng 10/2022 ở mức 241 USD/tấn, tương đương với tháng trƣớc và tăng 23,2% so với tháng 10/2021. Tính chung 10 tháng năm 2022, lượng nhập khẩu mặt hàng cám gạo đạt 474 nghìn tấn, trị giá 101,9 triệu USD, tăng 1,8% về lượng và tăng 23,1% về trị giá so với cùng kỳ năm 2021. Thị trường cung cấp chính mặt hàng này là Ấn Độ.

     

    Lượng nhập khẩu cám ngô trong tháng 10/2022 cũng tăng mạnh, đạt 20,2 nghìn tấn, trị giá 4,9 triệu USD, tăng 67,5% về lượng và tăng 66,2% về trị giá so với tháng trước, tăng 53,7% về lượng và tăng 41,4% về trị giá so với tháng 10/2021. Giá trung bình cám ngô nhập khẩu về Việt Nam trong tháng 10/2022 đạt 244 USD/tấn, giảm 0,8% so với tháng trước và giảm 8% so với tháng 10/2021. Tính chung 10 tháng năm 2022, lượng nhập khẩu mặt hàng cám ngô đạt 128,7 nghìn tấn, trị giá 39 triệu USD, tăng 6,2% về lượng và tăng 23,7% về trị giá so với cùng kỳ năm 2021. Thị trƣờng cung cấp chính là Trung Quốc và Ấn Độ.

     

    Trong tháng 10/2022, lượng nhập khẩu cám mỳ đạt 33,4 nghìn tấn, giảm 6,8% so với tháng trước và giảm 21,6% so với tháng 10/2021. Giá nhập khẩu trung bình cám mỳ trong tháng 10/2022 ở mức 289 USD/tấn, tăng 1,2% so với tháng trước và tăng 14,9% so với tháng 10/2021. Tính chung 10 tháng năm 2022, lượng nhập khẩu mặt hàng cám mỳ đạt 322,1 nghìn tấn, giảm 16,9% so với cùng kỳ năm 2021. Thị trường cung cấp chính mặt hàng này là Tanzania, Indonesia…

     

     + Nhóm bột protein động vật:

     

    Trong tháng 10/2022, lượng nhập khẩu bột thịt xương đạt 59,6 nghìn tấn, trị giá 33,7 triệu USD, giảm 1,2% về lượng và giảm 3,4% về trị giá so với tháng trước, nhưng tăng 28,4% về lượng và tăng 38,3% về trị giá so với tháng 10/2021. Giá nhập khẩu trung bình bột thịt xương trong tháng 10/2022 ở mức 565 USD/tấn, giảm 2,2% so với tháng trước nhưng tăng 7,8% so với tháng 10/2021. Tính chung 10 tháng năm 2022, lượng nhập khẩu mặt hàng bột thịt xương đạt 658 nghìn tấn, trị giá 364,7 nghìn tấn, tăng 17,1% về lượng và tăng 33,7% về trị giá so với cùng kỳ năm 2021. Thị trường chính cung cấp bột thịt xương là Mỹ và EU.

     

     Nhập khẩu bột gia cầm trong tháng 10/2022 đạt 20,3 nghìn tấn, trị giá 19,5 triệu USD, giảm 17,4% về lượng và giảm 20,9% về trị giá so với tháng trước, nhưng tăng 62,2% về lượng và tăng 68,5% về trị giá so với tháng 10/2021. Giá nhập khẩu trung bình bột gia cầm trong tháng 10/2022 ở mức 961 USD/tấn, giảm 4,3% so với tháng trước nhưng tăng 3,9% so với tháng 10/2021. Tính chung 10 tháng năm 2022, lượng nhập khẩu mặt hàng bột gia cầm đạt 191,6 nghìn tấn, trị giá 182,4 triệu USD, tăng 8,1% về lượng và tăng 21% về trị giá so với cùng kỳ năm 2021. Thị trường cung cấp chính mặt hàng này là Mỹ, Braxin, Ả Rập Xê Út…

     

    Nhập khẩu bột cá trong tháng 10/2022 đạt 10,7 nghìn tấn, giảm 1,6% so với tháng trước nhưng tăng 5,3% về trị giá so với tháng 10/2021. Giá nhập khẩu trung bình bột cá trong tháng 10/2022 ở mức 1.522 USD/tấn, giảm 4,4% so với tháng trước nhưng tăng 18,3% so với tháng 10/2021. Tính chung 10 tháng năm 2022, lượng nhập khẩu mặt hàng bột cá đạt 100,6 nghìn tấn, giảm 13,2% so với cùng kỳ năm 2021. Thị trường cung cấp chính mặt hàng này là Ấn Độ, Ôman, Pêru…

     

     + Nhóm chất tổng hợp và bổ trợ (CTH&BT):

     

    Trong tháng 10/2022, kim ngạch nhập khẩu nhóm CTH&BT đạt 49,6 triệu USD, tăng 42,2% so với tháng trước và tăng 16,2% so với tháng 10/2021. Tính chung 10 tháng năm 2022, nhập khẩu CTH&BT đạt 458,8 triệu USD, tăng 0,9% so với cùng kỳ năm 2021. Thị trường cung cấp chính là Châu Á (Trung Quốc, Thái Lan…).

    t/h

    Để lại comment của bạn

    Bình luận mới nhất

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Theo UBND xã Minh Châu – Ba Vì – Hà Nội, xác định lợi thế về đất đai, khí hậu nên những năm qua đã đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp là chính, trong đó xã tập trung đến phát triển chăn nuôi bò sinh sản, bò thịt. […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Trong bối cảnh bệnh Dịch tả lợn châu Phi (DTLCP) đã xảy ra tại TP Hồ Chí Minh, thành phố càng nỗ lực thực hiện các biện pháp kiểm soát chăn nuôi, giết mổ và tiêu thụ gắt gao. Hơn nữa, khảo sát một đêm tại thị trường […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Anh Trần Văn Toản, ở khu vực Bình Yên B, phường Long Hòa, quận Bình Thủy, TP. Cần Thơ là người đầu tiên ở Đồng bằng sông Cửu Long mở trang trại nuôi chim công rất thành công mà cho thu nhập hơn 200 triệu đồng/năm.   1/ […]

    • Giống chim này có khả năng thích ứng cao với điều kiện khí hậu ở nước ta, tỷ lệ nuôi sống đạt 94-99%.

    • Để đàn gà sinh trưởng phát triển tốt có tỷ lệ sống cao cần thực hiện tốt kỹ thuật úm gà con

    • Việt Nam cùng với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ… là những nước đã nuôi trồng thành công đông trùng hạ thảo.

    • Gà vảy cá được mệnh danh là “mỹ kê” đã được nhiều đại gia Việt sẵn sàng chi tiền triệu để hữu cặp gà vảy cá đẹp.

    • Cừu chính là loài vật nuôi thích hợp với những điều kiện khắc nghiệt của vùng đất Ninh Thuận.

    • Nghề nuôi chim cút đẻ hiện đang phổ biến ở rất nhiều hộ gia đình tại các địa phương và mang lại hiệu quả kinh tế khá.

    • Tỉnh Phú Thọ với địa hình đa dạng: nhiều gò, đồi thấp, dải đồng bằng thuận lợi cho chăn nuôi, trong đó, có chăn nuôi gà lông màu.