Việc chăm sóc heo nái mang thai rất quan trọng đối với sự thành công của người chăn.Sau khi phối 21 ngày không thấy nái động dục trở lại xem như đã mang thai.
Thời gian mang kéo dài từ 3 tháng + 3 tuần + 3 ngày ( trung bình từ 114 – 116 ngày). Nhưng nếu nái sinh sớm từ ngày 108 trở lại thường rất khó nuôi con, dù có sữa nhưng con yếu ớt, sức bú mẹ kém và khả năng đề kháng kém nên tỷ lệ nuôi sống thấp. Trong thời kỳ mang thai có thể chia ra làm 2 giai đoạn như sau:
1. Giai đoạn chửa kỳ 1: 1-84 ngày mang thai
Thời kỳ này phôi và thai còn nhỏ, sử dụng ít chất trong máu của mẹ, dưỡng chất còn lại nái dùng để dự trữ tạo sữa sau này. Thiếu chất dinh dưỡng trong giai đoạn này có ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của phôi thai như hiện tượng tiêu phôi, nái còn ít thai sống khi đẻ mà chứa nhiều thôi khô (thai gỗ). Thừa chất dinh dưỡng cũng dẫn đến tiêu phôi và làm nái trở nên mập mỡ. Nái khi cai sữa quá gầy ốm không dự trữ đủ dưỡng chất trong giai đoạn này sẽ thiếu sữa khi cho con bú trong lứa đẻ kế tiếp. Vì vậy phải định lượng thức ăn cho nái ở giai đoạn này phải hết sức chặt chẽ.
Thường trong giai đoạn mang thai kỳ một khẩu phần ăn : 1,8 -2 kg thức ăn.
2. Giai đoạn chửa kỳ 2 : 85 ngày – 110 ngày
Đây là thời kỳ thai đã lớn và sử dụng nhiều dưỡng chất trong máu mẹ để phát triển. Do đó việc bổ sung dưỡng chất đầy đủ trong giai đoạn này là rất quan trọng.
Khác với thời kỳ 1, thời kỳ này cần cho nái vận động để có hệ cơ tốt, chân khỏe, khung xương chậu nở rộng( đối với nái đẻ lứa đầu), nên cho nái ra sân cỏ hay sân cát vận động tùy thích, tiếp xúc với môi trường tự nhiên, để tăng sức đề kháng bệnh và nhờ đó gia tăng hàm lượng kháng thể chống bệnh cho heo con trong sữa đầu.
Ở thời kỳ này, tầm vóc nái năng nề chuồng trại phải khô tránh mưa, gió lùa, mật độ phù hợp, theo dõi kỹ bộ vú và bộ phận sinh dục, vệ sinh chuồng đẻ…
Thời kỳ này khẩu phần ăn của nái vẫn giữ nguyên như thời kỳ 1.
3. Giai đoạn chửa kỳ 3: 110 -116 ngày(sinh)
Lúc này nái sắp đẻ nên chuyển nái đến chuồng đẻ. Khu chuồng đẻ cần phải vệ sinh trước đó và chuẩn bị chuồng úm cho lợn con.
Khẩu phần ăn của lợn trong giai đoạn này cân giảm dần cho đến lúc nái đẻ: 2,5kg – 2kg – 1,5kg – 1kg – 0,5kg – 0. Việc giảm khẩu phần ăn cho nái khi gần đến ngày sinh, giúp cho bào thai không bị chèn ép và tạo stress làm cho nái tăng tiết hoocmon, làm nái dễ đẻ.
Nguồn tin: agriviet
- heo nái mang thai li> ul>
- Nghiên cứu phân lập và xác định tính mẫn cảm với kháng sinh của vi khuẩn Haemophilus parasuis phân lập được từ lợn nghi mắc bệnh tại một số tỉnh phía Bắc Việt Nam
- Hướng tới Đại hội Đại biểu lần thứ IV nhiệm kỳ 2026-2031 Hội Chăn nuôi thỏ Việt Nam: Đột phá chiến lược Phát triển ngành chăn nuôi thỏ Việt Nam trong giai đoạn mới
- Phát triển xét nghiệm tại chỗ có độ nhạy cao cho bệnh dịch tả lợn châu Phi bằng kết hợp phương pháp tách chiết DNA EZ Fast với kỹ thuật LAMP: Đánh giá trên các mẫu máu toàn phần từ lợn bệnh tự nhiên tại Việt Nam
- Đánh giá độc tính tế bào và khảo sát hoạt tính kháng khuẩn in vitro của kháng sinh nano trên một số chủng vi khuẩn escherichia coli phân lập ở đường hô hấp của gà
- Bức tranh toàn cảnh ngành sữa Việt Nam và sức mạnh của chuỗi thức ăn liên kết
- Giảm chi phí thức ăn chăn nuôi: Khi nào nên thay ngô và đậu nành?
- Tối ưu lợi nhuận chăn nuôi khi giá lợn hơi đang cao
- Một số kết quả nghiên cứu về reovirus biến chủng gây bệnh ở thủy cầm tại một số tỉnh miền Bắc
- Công cụ kỹ thuật số mở đường cho ngành bò sữa phát triển bền vững
- Quản lý giai đoạn sinh trưởng ở gà thịt: Duy trì năng suất và tối ưu hóa lợi nhuận
Tin mới nhất
T6,14/08/2026
- ACIAR và Việt Nam tăng cường hợp tác nghiên cứu Nông nghiệp hỗ trợ chuyển đổi xanh, phát triển bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu
- Thử nghiệm cánh tay robot phẫu thuật tự động trên heo trước khi ứng dụng cho người
- Sử dụng dịch ngoáy mũi để phát hiện hội chứng hô hấp phức hợp ở lợn (PRDC) nhiễm bệnh trong tự nhiên
- Hà Nội đặt mục tiêu phủ vắc xin viêm da nổi cục cho 100% đàn trâu, bò
- Chăn nuôi thỏ có nhiều lợi thế trở thành ngành hàng phù hợp với nông nghiệp sạch, xanh và kinh tế tuần hoàn
- Sửa 10 luật về nông nghiệp và môi trường: Đẩy mạnh hậu kiểm trong chăn nuôi, thú y
- PGS.TS Lê Thị Thúy: Dành trọn tâm huyết đưa khoa học đến với người chăn nuôi
- Nghiên cứu phân lập và xác định tính mẫn cảm với kháng sinh của vi khuẩn Haemophilus parasuis phân lập được từ lợn nghi mắc bệnh tại một số tỉnh phía Bắc Việt Nam
- Hướng tới Đại hội Đại biểu lần thứ IV nhiệm kỳ 2026-2031 Hội Chăn nuôi thỏ Việt Nam: Đột phá chiến lược Phát triển ngành chăn nuôi thỏ Việt Nam trong giai đoạn mới
- Hội thảo đầu bờ Vietstock 2026: Tìm giải pháp nâng cao hiệu quả chăn nuôi gia cầm
- Cargill tiếp tục sản xuất thức ăn cá tại nhà máy Biên Hòa và Hưng Yên
- Vượt qua thách thức Gumboro và H9N2 để nâng cao hiệu quả chăn nuôi gia cầm
- Doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi: Chia sẻ khó khăn cùng người chăn nuôi
- Ngành chăn nuôi heo trước thách thức mới trên hành trình phát triển bền vững
- Chuyên gia bàn giải pháp sử dụng kháng sinh có kiểm soát trong chăn nuôi
- Ngành sữa Việt Nam: Cơ hội “bứt phá” từ nội lực
- Dịch tả heo châu Phi: Hiện trạng và giải pháp kiểm soát hiệu quả (Phần 1)
- Bộ NN&MT mở đợt ‘truy quét’ việc lạm dụng chất kích tăng trưởng, tăng trọng
- Cargill rút khỏi ngành thức ăn thủy sản tại Việt Nam, đóng cửa nhà máy tại Đồng Tháp và Long An
- Chăn nuôi dê bền vững theo chuỗi giá trị: Chủ nhà hàng là mắt xích quan trọng























Bình luận mới nhất