Hiệu quả của kháng sinh Tylvalosin trên heo thịt khi đối diện thử thách với chủng virus PRRS tự nhiên
Tác giả: Hannah Cotterman; Monica Strawn; Peggy Brinkman, DVM – Khoa Thú y, Đại học Bang Iowa, Ames, Iowa, USA. Bộ phận chăn nuôi heo công ty Smithfield Hog, Algona, Iowa, USA.
Biên dịch: Mr. Kiên Nguyễn, DVM, MSc, MBA. Công ty Eco Animal Health.
Giới thiệu
Virus gây hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở heo (PRRSV) là nguyên nhân chính gây thiệt hại kinh tế cho ngành chăn nuôi heo và là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây chết ở heo sau cai sữa giai đoạn nuôi thịt.
Các dấu hiệu lâm sàng bao gồm sốt, giảm ăn, ho, khó thở và tăng tỷ lệ chết. Virus có thể tồn tại trong đàn trong thời gian dài và hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu. Người ta đã chứng minh rằng, chỉ riêng PRRSV có thể làm giảm doanh thu chăn nuôi heo của Hoa Kỳ trung bình 2,29 tỷ USB mỗi năm. Điều này khiến việc sử dụng thuốc gia tăng nhằm giảm nhẹ các triệu chứng lâm sàng và hạn chế thiệt hại kinh tế. Một số thuốc kháng viêm nonsteroid (NSAID) gần đây đã bị chỉ trích, khiến nhu cầu tìm hiểu và đánh giá các sản phẩm khác có những đặc tính tương tự trở nên cần thiết hơn.
Tylvalosin là một kháng sinh nhóm macrolide đã được chứng minh có khả năng điều hòa miễn dịch và chống viêm, đồng thời có thể ức chế sự nhân lên của PRRSV trong một số nghiên cứu. Mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá hiệu quả của tylvalosin trên heo thịt trong điều kiện thử thách với chủng PRRSV tự nhiên.
Vật liệu và phương pháp
Đây là một nghiên cứu được thiết kế theo kiểu khối ngẫu nhiên hoàn toàn. Heo cai sữa từ một trại nái dương tính với PRRSV được sử dụng trong thí nghiệm. Trước khi phân nhóm, bệnh hô hấp được xác nhận thông qua mẫu mô, dịch miệng và xét nghiệm PCR định lượng (qPCR) đối với PRRSV.
60 heo cai sữa được đánh dấu nhận dạng và phân ngẫu nhiên vào các nhóm điều trị dựa trên giới tính và khối lượng cơ thể. Trong quá trình phân nhóm, mỗi con heo được chấm điểm A hoặc B theo một chương trình đánh giá cá thể. Nhiệt độ trực tràng của từng con được ghi nhận vào các ngày D0, D8 và D14.
Bốn ô chuồng được sử dụng trong thử nghiệm và mỗi nhóm điều trị được phân bố đồng đều trong các ô chuồng này. Nhóm đối chứng không cho uống thuốc, nhóm điều trị cho uống Tylvalosin 2 ml/con. Tylvalosin được sử dụng với liều mục tiêu 5 mg/kg thể trọng và bắt đầu điều trị từ ngày thứ nhất (D1). Thuốc được cho dùng một lần mỗi ngày trong 5 ngày liên tiếp bằng dụng cụ bơm thuốc đường miệng.
Vào các ngày D0, D8 và D14 của thí nghiệm, mẫu huyết thanh của toàn bộ 60 con heo được xét nghiệm qPCR PRRSV; đồng thời ghi nhận khối lượng cơ thể và đánh giá tình trạng sức khỏe từng cá thể. Những con heo chết hoặc bị tiêu hủy nhân đạo trong thời gian nghiên cứu đều được chấm điểm tổn thương phổi. Điểm tổn thương phổi ban đầu được nhà nghiên cứu đánh giá tại hiện trường, sau đó được một bác sĩ giải phẫu bệnh tại Phòng Thí nghiệm Chẩn đoán Thú y – Đại học Bang Iowa đánh giá độc lập. Việc chấm điểm cá thể, điều trị và đánh giá tổn thương phổi sau chết đều do cùng một người thực hiện. Người thực hiện các đánh giá này không biết trước heo thuộc nhóm điều trị nào.
Kết quả và thảo luận
Những con heo này đã trải qua một đợt bệnh hô hấp tự nhiên với tỷ lệ chết 10%. Ở nhóm đối chứng, nhiệt độ trực tràng trung bình (0F) vào các ngày D1, D8 và D14 lần lượt là 103,99; 103,99 và 103,78. Ở nhóm điều trị bằng tylvalosin, nhiệt độ trực tràng (0F) vào các ngày D1, D8 và D14 lần lượt là 103,93; 104,18 và 103,87. Từ D0 đến D14, mức thay đổi nhiệt độ trực tràng là -0,180F ở nhóm đối chứng và -0,140F ở nhóm tylvalosin (P = 0,57), cho thấy nhiệt độ trực tràng không khác biệt giữa các nhóm điều trị theo thời gian.
Kết quả xét nghiệm qPCR đối với PRRSV cho thấy có 15 mẫu dương tính vào ngày D0, 46 mẫu dương tính vào ngày D8 và 48 mẫu dương tính vào ngày D14. Giá trị Ct của qPCR (Bảng 1) giảm dần theo thời gian ở nhóm đối chứng, trong khi ở nhóm tylvalosin lại tăng dần theo thời gian. Sự gia tăng giá trị Ct qPCR ở nhóm tylvalosin cho thấy tải lượng virus đã giảm.
Điểm tổn thương phổi ở nhóm heo được điều trị bằng tylvalosin nhìn chung nhẹ hơn, điều này đúng như dự đoán. Các tổn thương phổi (Bảng 1) được đánh giá bởi nhà nghiên cứu tại hiện trường và một bác sĩ giải phẫu bệnh được chứng nhận. Điểm đánh giá của bác sĩ giải phẫu bệnh được thực hiện dựa trên hình ảnh chụp. Kết quả này cho thấy việc sử dụng tylvalosin có liên quan đến sự giảm mức độ tổn thương phổi so với nhóm đối chứng. Có 2 con heo chết ở nhóm đối chứng, trong khi nhóm tylvalosin ghi nhận 1 trường hợp chết. Dựa trên hệ thống chấm điểm cá thể, tỷ lệ heo có điểm số suy giảm ở nhóm đối chứng là 57,38%, trong khi ở nhóm tylvalosin là 55,07% (P = 0,87).
Bảng 1. Hiệu quả của tylvalosin
đối với điểm tổn thương phổi và PCR CT

Điểm đánh giá của từng cá thể heo không khác biệt giữa hai nhóm điều trị theo thời gian. Do thời gian nghiên cứu ngắn, không ghi nhận được sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tăng trọng bình quân ngày (ADG) và khối lượng cuối kỳ giữa hai nhóm. Trong tương lai, cần thực hiện các nghiên cứu có thời gian theo dõi dài hơn và cỡ mẫu lớn hơn. Việc tiếp tục đánh giá các sản phẩm như tylvalosin là rất cần thiết trong công tác quản lý các đợt bệnh hô hấp cấp tính, bao gồm cả các trường hợp liên quan đến PRRSV.
Xem thêm:
TÀI LIỆU THAM KHẢO__________________
- Gebhardt JT, Tokach MD, Dritz SS, et al. Postweaning mortality in com mercial swine production. I: review of non-infectious contributing fac tors. Transl Anim Sci. 2020;4(2): txaa068. doi: 10.1093/tas/txaa068
- Osemeke O, Silva G, Corzo C, et al. Economic impact of productivity losses attributable to porcine reproductive and respiratory syndrome virus in United States pork production, 2016 2020. Preventive Veterinary Medicine. 2025;244:106627. https://doi. org/10.1016/j.prevetmed.2025.106627
- Stuart A, Brown T, Mockett A. Tylvalosin, a macrolide antibiotic, in hibits the in-vitro replication of European and American porcine re productive and respiratory syndrome virus (PRRSV) viruses. The Pig J. 2008; 61:42-48
Liên hệ:
Mr. Kien Nguyen
DVM, MSc, MBA, Quản lý Khu vực, Việt Nam
Email: kien.nguyen@ecoanimalhealth.com
Số điện thoại: +84 (0) 968 841 999
- Eco Animal Health li>
- kháng sinh Tylvalosin li>
- chủng virus PRRS li> ul>
- Nhà máy TĂCN thông minh: Tích hợp tự động hóa, IoT và trí tuệ nhân tạo
- Ứng dụng công nghệ chăn nuôi bò Hanwoo trong chăn nuôi bò H’Mông: Những kết quả bước đầu từ khảo sát thực địa tại Tuyên Quang
- Chủ động xây dựng hệ thống phòng bệnh lở mồm long móng: Hướng phát triển bền vững cho ngành chăn nuôi
- Bài học từ 30 năm chống cúm gia cầm H5N1 tại châu Á: Cảnh báo cho nguy cơ dịch bệnh mới nổi
- Gắn thiết bị GPS cho đàn bò: Hướng đi mới trong phát triển chăn nuôi thông minh ở vùng cao
- Đồng Nai: Tiêu hủy gần 2.000 con lợn mắc dịch tả lợn châu Phi, khẩn trương ngăn dịch lây lan
- Kiểm soát PRRS, ASF và FMD SAT1 bằng giải pháp sinh học và công nghệ chăn nuôi hiện đại – Bài học thực tiễn từ Trung Quốc
- Tổng giám đốc AVAC Việt Nam kiến nghị về diễn giải kết quả xét nghiệm ổ dịch trong bối cảnh vắc-xin ASF đã được lưu hành tự do
- Quản lý ABC-4: Chìa khóa cho dinh dưỡng heo con
- Quảng Trị: Chủ động phòng, chống dịch bệnh cho đàn vật nuôi, giải pháp đồng bộ từ cơ sở đến tỉnh
Tin mới nhất
T3,07/07/2026
- Hiệu quả của kháng sinh Tylvalosin trên heo thịt khi đối diện thử thách với chủng virus PRRS tự nhiên
- Nhà máy TĂCN thông minh: Tích hợp tự động hóa, IoT và trí tuệ nhân tạo
- FUJINUCO kỷ niệm chặng đường 15 năm phát triển, tiếp tục mở rộng hệ sinh thái ngành chăn nuôi
- Ứng dụng công nghệ chăn nuôi bò Hanwoo trong chăn nuôi bò H’Mông: Những kết quả bước đầu từ khảo sát thực địa tại Tuyên Quang
- Hội Chăn nuôi Thỏ Việt Nam kiến nghị giảm phí kiểm soát giết mổ, gỡ khó cho ngành chăn nuôi còn nhiều dư địa phát triển
- Chăn nuôi heo thông minh: Tối ưu hóa năng suất sinh sản
- Bản tin thị trường ngành thịt trong nước và thế giới tháng 6.2026
- AAAP 2026: Huy động trí tuệ toàn ngành hướng tới kỳ hội nghị chăn nuôi tầm vóc quốc tế
- Triển khai một số quy định mới về quản lý thức ăn chăn nuôi: Doanh nghiệp và người chăn nuôi cần đặc biệt lưu ý
- Thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y được xếp vào nhóm rủi ro trung bình theo quy định mới
- Ngành chăn nuôi heo trước thách thức mới trên hành trình phát triển bền vững
- Chuyên gia bàn giải pháp sử dụng kháng sinh có kiểm soát trong chăn nuôi
- Ngành sữa Việt Nam: Cơ hội “bứt phá” từ nội lực
- Dịch tả heo châu Phi: Hiện trạng và giải pháp kiểm soát hiệu quả (Phần 1)
- Bộ NN&MT mở đợt ‘truy quét’ việc lạm dụng chất kích tăng trưởng, tăng trọng
- Cargill rút khỏi ngành thức ăn thủy sản tại Việt Nam, đóng cửa nhà máy tại Đồng Tháp và Long An
- Chăn nuôi dê bền vững theo chuỗi giá trị: Chủ nhà hàng là mắt xích quan trọng
- Da khỏe, lông đẹp: Chiến lược dinh dưỡng hiệu quả cho heo con sau cai sữa
- Lo ngại bệnh than, Campuchia ngừng nhập một số sản phẩm từ Thái Lan
- Cạn tiền, một công ty tại Nam Phi phải tiêu hủy hơn 350.000 con gà






















Bình luận mới nhất