Các nghiên cứu cho thấy rằng nhiều trường hợp tiêu chảy ở thú non có nguyên nhân là do dinh dưỡng. Điều này có thể được thay đổi bằng cách lựa chọn nguyên liệu tốt hơn và sự kết hợp các thành phần trong khẩu phần – mà không sử dụng bất cứ kháng sinh nào.
Đối mặt với áp lực của người tiêu dùng và quy định pháp luật, các nhà sản xuất ở EU đang hướng đến việc tuyên bố “không sử dụng thuốc kháng sinh”. Bên ngoài EU, có các định nghĩa khác nhau về sản xuất không có kháng sinh (ABF) đang được lưu hành. Giảm liều sử dụng, chỉ sử dụng các nhóm ionophore, sản xuất hữu cơ không có kháng sinh, inonophore trị cầu trùng, hóa chất kháng cầu trùng hoặc hóa chất diệt khuẩn, như là kháng sinh Sulphonamides, là một số cách được sử dụng.
“Không sử dụng thuốc kháng sinh” được hiểu là động vật lớn lên mà không dùng thuốc kháng sinh trong thức ăn và nước uống và tiêm thuốc kể cả việc không sử dụng ionophores, mặc dù động vật vẫn có thể được dùng thuốc trị cầu trùng. Điều này thách thức nhà sản xuất, đòi hỏi họ phải đặc biệt chú ý tới việc kiểm soát vi khuẩn trong thời điểm ấp nở hay cai sữa và trong quá trình phát triển đường ruột khỏe mạnh. Nó cũng đòi hỏi sự lựa chọn cẩn thận các sản phẩm chất lượng cao cho khẩu phần ăn của thú non. Các thành phần dễ tiêu là chìa khóa để đảm bảo hàm lượng nitơ không tiêu hóa được ở mức thấp trong công thức thức ăn và do đó đóng một vai trò quan trọng trong việc duy trì sức khỏe đường ruột, vì chúng đảm bảo ít hợp chất nitơ đi vào ruột già hơn.
Thức ăn dễ tiêu hóa là chìa khóa để giảm thiểu tiêu chảy sau cai sữa. Ảnh: Thomas Priskorn
Các chất dinh dưỡng trong thức ăn heo con
Một nghiên cứu thú y độc lập ở Đan Mạch đã chỉ ra rằng 50% heo con được chẩn đoán bị tiêu chảy mà không phát hiện được mầm bệnh vi khuẩn. Đối với một chuyên gia dinh dưỡng, đây là dấu hiệu trực tiếp để chỉ ra vấn đề nằm ở dinh dưỡng thức ăn. Một phần khác của nghiên cứu cho thấy, trong số 20 đàn có 50% heo con bị nhiễm trùng và 50% heo con không bị nhiễm bệnh, 70% heo con bị viêm ruột. Điều này có nghĩa là có một nguyên nhân nào đó khác hơn nguyên nhân do độc tố vi khuẩn đã gây ra kích ứng và viêm ruột. Trong những trường hợp như vậy, chất dinh dưỡng trong thức ăn phải được kiểm tra – cùng với chất lượng của nguyên liệu thô cung cấp các chất dinh dưỡng này.
Heo con cùng với mầm bệnh có thể bị ảnh hưởng không tốt do các chất dinh dưỡng có vai trò như một chất nền cho các tác nhân gây bệnh này. Ví dụ, nếu thức ăn có hàm lượng nitơ phi Protein (NPN) cao và khả năng tiêu hóa protein thấp hoặc các chất ức chế trypsin cao, điều này sẽ cung cấp chất nền cho sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh. Mặt khác, heo con bị viêm ruột nhưng không do mầm bệnh vi khuẩn gây bệnh, có thể do ảnh hưởng bởi các thành phần nguyên liệu thô khác. Protein kháng nguyên ở dạng beta-conglycinin và haemagglutinin như lectin, cả hai đều có trong nguyên liệu đậu nành và có thể gây hại và làm thay đổi biểu mô ruột. Điều này sẽ làm giảm sự hấp thu chất dinh dưỡng của ruột và cung cấp các chất dinh dưỡng cho vi khuẩn.
Sử dụng các nguồn năng lượng và protein có khả năng tiêu hóa cao trong công thức thức ăn giúp giải quyết vấn đề này bằng cách giảm các chất dinh dưỡng khả dụng cho vi khuẩn gây bệnh do đó tăng cường lượng ăn vào từ đó hỗ trợ sự phát triển heo con khỏe mạnh. Các nguyên liệu có hàm lượng chất kháng dưỡng thấp cũng làm giảm tổn thương đường ruột và tăng cường khả năng hấp thụ chất dinh dưỡng ở ruột heo
Bảng 1 Cung cấp tổng quan về các chất dinh dưỡng và chất kháng dưỡng trong các nguyên liệu từ đậu nành. Việc bổ sung nấm men hoặc nguyên liệu có thành phần nấm men vào thức ăn có thể góp phần tăng cường sức khỏe đường ruột ổn định.
Khả năng tiêu hóa của gà con
Gà con mới nở có hệ tiêu hóa chưa hoàn thiện, khả năng tiêu hóa chất dinh dưỡng thấp hơn 10-15% so với gà thịt trưởng thành. Điều này có nghĩa là một khẩu phần thức ăn không tối ưu sẽ dẫn đến dư thừa chất dinh dưỡng ở phần ruột già, tạo điều kiện cho sự phát triển của vi khuẩn và ký sinh trùng. Để tránh điều này, việc quan trọng là phải đánh giá được khả năng tiêu hóa của gà con, sớm thiết lập một hệ vi sinh vật đường ruột và kích hoạt các enzyme tiêu hóa khi xây dựng công thức khẩu phần thức ăn không chứa kháng sinh (ABF).
Thời gian đầu sau khi ấp nở, hàm lượng enzyme tuyến tụy tăng lên. Kết quả nghiên cứu từ Noy & Sklan cho thấy hàm lượng enzyme amylase và trypsin tăng đáng kể trong 21 ngày đầu tiên. Mặt khác, sự hoạt động của enzyme protease không đủ trong giai đoạn đầu sau khi nở để có thể thủy phân protein ngoại sinh và nội sinh- điều này giải thích cho việc gà con tiêu hóa protein kém trong vài ngày đầu sau khi nở
Hình 1 – Lượng ăn vào tối đa của heo con 10kg liên quan đến khả năng tiêu hóa thức ăn.
Vì vậy, tiêu hóa nitơ trong ruột non được báo cáo tăng từ 78% vào ngày thứ 4 đến 92% vào ngày thứ 21 (Hình 1). Nếu chúng ta thêm vào đó những ảnh hưởng của chất kháng dưỡng như chất ức chế trypsin thì khả năng tiêu hóa protein sẽ tồi tệ hơn. Gà con có khả năng sản sinh Enzyme protease bị hạn chế và do đó sẽ không thể bù đắp được sự mất protease do chất ức chế trypsin gây ra. Hoạt tính của phần enzyme còn lại trong ruột thường quá thấp để có thể đảm bảo sự phân giải protein trong thức ăn phần protein dư thừa sẽ bị lãng phí và được sử dụng làm chất nền cho vi khuẩn. Ví dụ như vi khuẩn Clostridia.
Một khía cạnh quan trọng khác của sản xuất thức ăn không kháng sinh ABF là công thức khẩu phần thức ăn phải được điều chỉnh trong suốt quá trình sinh trưởng của gà thịt để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng cụ thể trong từng giai đoạn. Cho ăn theo giai đoạn: – với nhiều giai đoạn cung cấp thức ăn hơn so với hiện tại – sẽ đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng được đáp ứng chính xác hơn. Khô dầu đậu nành được xử lý bằng enzyme để giảm các yếu tố kháng dinh dưỡng có thể là một cách bắt đầu tốt trong khẩu phần ăn khởi động – điều này đã được chứng minh từ một nghiên cứu so sánh việc sử dụng protein dễ tiêu trong khẩu phần ăn khởi động với kháng sinh kích thích sinh trưởng AGP (Hình 2)
Hình 2: So sánh ảnh hưởng protein đậu nành được xử lý bằng enzyme với kháng sinh kích thích sinh trưởng trong khẩu phần khởi động của gà thịt.
(Bacitracin methylene disalicylate (BMD) được dùng như kháng sinh kích thích sinh trưởng liều 50 g/tấn thức ăn trong suốt vòng đời. ETS là protein đậu nành được xử lý bằng enzyme gồm liều 5% trong 14 ngày đầu)
Tăng trọng (42 ngày)
Bằng cách chọn các nguyên liệu thức ăn có chất lượng tốt, có hàm lượng chất kháng dưỡng tối thiểu thì Nhà sản xuất có thể đảm bảo khả năng tiêu hóa chất dinh dưỡng tối ưu và giảm thiểu thiệt hại cho môi trường đường ruột. Nhiều nghiên cứu cũng đã cho thấy những lợi ích này đối với sức khỏe, sinh trưởng và phát triển của thú non. Trong khi vẫn cần phải điều trị một số nguyên nhân gây tiêu chảy, thì việc sử dụng kháng sinh có thể được giảm thiểu thông qua việc sử dụng công nghệ tốt nhất có sẵn- trong trường hợp này chúng ta nên sử dụng các nguyên liệu được hiểu biết nhiều nhất.
Theo Katia Pedrosa, chuyên gia dinh dưỡng gia cầm và Lars Sangill Andersen, chuyên gia dinh dưỡng heo.
Biên dịch: Ecovet Team (theo AllAboutFeed)
Nguồn: Ecovet
- thú non li>
- nguyên liệu kháng sinh li>
- thay thế kháng sinh li>
- sử dụng kháng sinh li>
- Giảm sử dụng kháng sinh li> ul>
- Đồng Tháp xử lý ổ dịch cúm gia cầm trên đàn vịt
- Đồng Tháp khẩn trương khống chế ổ dịch cúm gia cầm A/H5N1 tại xã Tân Thới
- Kaico hợp tác với Reber Genetics (Đài Loan): Bước tiến chiến lược trong phát triển giải pháp chăn nuôi không kháng sinh
- Giá sản phẩm chăn nuôi (giá tại trại) cả nước ngày 23/06/2026
- Kiểm soát PRRS, ASF và FMD SAT1 bằng giải pháp sinh học và công nghệ chăn nuôi hiện đại – Bài học thực tiễn từ Trung Quốc
- Hệ thống đàn khép kín trong chăn nuôi heo: Hướng đi mới trước áp lực dịch bệnh và yêu cầu nâng cao năng suất
- Boehringer Ingelheim ghi dấu 5 tỷ liều INGELVAC CIRCOFLEX®, cam kết đồng hành cùng ngành chăn nuôi heo
- MSD Animal Health khởi động chuỗi hội thảo khoa học chuyên sâu: “Smart Swine Production: Reproduction Made Easy” – Giải pháp toàn diện tối ưu năng suất đàn nái
- Báo chí Hội Chăn nuôi Việt Nam: Đồng hành cùng sự phát triển của ngành chăn nuôi
- Biogénesis Bagó đồng hành cùng IPVS 2026: Công bố hiệu quả bảo vệ chéo của vaccine lở mồm long móng thế hệ mới
Tin mới nhất
T5,25/06/2026
- Phúc lợi động vật: Từ khuyến nghị tự nguyện đến yêu cầu tất yếu của ngành chăn nuôi hiện đại
- Đồng Tháp xử lý ổ dịch cúm gia cầm trên đàn vịt
- Đồng Tháp khẩn trương khống chế ổ dịch cúm gia cầm A/H5N1 tại xã Tân Thới
- Lợn đen Nhật Bản lai giống Việt: Tăng năng suất, nâng chất lượng thịt
- Kaico hợp tác với Reber Genetics (Đài Loan): Bước tiến chiến lược trong phát triển giải pháp chăn nuôi không kháng sinh
- Giá sản phẩm chăn nuôi (giá tại trại) cả nước ngày 23/06/2026
- UBND tỉnh Thái Nguyên ban hành quy định mới về bảo vệ môi trường trong chăn nuôi
- Kiểm soát PRRS, ASF và FMD SAT1 bằng giải pháp sinh học và công nghệ chăn nuôi hiện đại – Bài học thực tiễn từ Trung Quốc
- AAAP 2026: Hoàn thiện công tác chuẩn bị, tăng cường kết nối khoa học trong khu vực
- Hệ thống đàn khép kín trong chăn nuôi heo: Hướng đi mới trước áp lực dịch bệnh và yêu cầu nâng cao năng suất
- Ngành chăn nuôi heo trước thách thức mới trên hành trình phát triển bền vững
- Chuyên gia bàn giải pháp sử dụng kháng sinh có kiểm soát trong chăn nuôi
- Ngành sữa Việt Nam: Cơ hội “bứt phá” từ nội lực
- Dịch tả heo châu Phi: Hiện trạng và giải pháp kiểm soát hiệu quả (Phần 1)
- Bộ NN&MT mở đợt ‘truy quét’ việc lạm dụng chất kích tăng trưởng, tăng trọng
- Cargill rút khỏi ngành thức ăn thủy sản tại Việt Nam, đóng cửa nhà máy tại Đồng Tháp và Long An
- Chăn nuôi dê bền vững theo chuỗi giá trị: Chủ nhà hàng là mắt xích quan trọng
- Da khỏe, lông đẹp: Chiến lược dinh dưỡng hiệu quả cho heo con sau cai sữa
- Lo ngại bệnh than, Campuchia ngừng nhập một số sản phẩm từ Thái Lan
- Cạn tiền, một công ty tại Nam Phi phải tiêu hủy hơn 350.000 con gà





























Bình luận mới nhất