[Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Altrenogest là Progesterone dạng hoạt động được cấp qua đường uống và cơ chế hoạt động giống với Progesterone tự nhiên giúp ngăn cản hoặc ức chế sự động dục của nái.
Altrenogest được cung cấp qua đường miệng giúp ngăn cản hoặc ức chế chu kỳ động dục và giới hạn biểu hiện lên giống cũng như sự rụng trứng. Khi dừng việc cung cấp Altrenogest, sự phóng thích các hormone tự nhiên sẽ tự động diễn ra. Vùng dưới đồi phóng thích hormone GnRH, tuyến yên phóng thích hormone FSH và LH cho nên nái trở lại động dục một cách tự nhiên. Cần phải hiểu rõ rằng, Altrenogest không có chức năng gây ra sự động dục trên nái mà nó ngăn cản/ức chế sự động dục của nái trong suốt quá trình bổ sung Altrenogest; vì thế, chu kỳ động dục của nái sẽ khởi động trở lại sau khi ngưng dùng Altrenogest.
Tầm quan trọng của số ngày nái lên giống sau khi cai sữa.
Thời gian lên giống sau cai sữa bị kéo dài được xem là một trong những yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất sinh sản tại trại (biểu đồ 01 và 02), cho nên nái có thời gian lên giống từ:
- 3 – 6 ngày sau khi cai sữa được xem là nhóm có năng suất sinh sản tốt nhất cả về tỷ lệ đẻ và tổng số con sinh ra.
- 7 – 10 ngày sau khi cai sữa thường là nhóm có năng suất kém nhất tại trại.
Biểu đồ 1: Ảnh hưởng của số ngày lên giống sau cai sữa đến tỷ lệ đẻ
Biểu đồ 2: Ảnh hưởng của số ngày lên giống sau cai sữa đến tổng số con sinh ra
Altrenogest được dùng như thế nào?
Việc sử dụng Altrenogest lúc cai sữa có hiệu quả cho cả nái vừa mới kết thúc chu kỳ nuôi con lần đầu tiên và cho cả những nái có thể trạng kém lúc cai sữa ở bất kỳ lứa đẻ nào. Altrenogest cho phép:
- Ức chế sự động dục của nái trong vài ngày để giúp nái có thời gian hồi phục thể trạng
- Giúp nái chuyển đổi trạng thái thể chất từ dị hóa sang đồng hóa
- Đủ thời gian hoàn thiện hệ niệu dục
- Giảm tỷ lệ nái không lên giống
- Cải thiện năng suất sinh sản của lứa sau
Quy trình sử dụng
Mặc dù trước đây Altrenogest được khuyến cáo bắt đầu sử dụng đúng vào ngày nái cai sữa, tuy nhiên ngày nay được nhiều khuyến cáo nên bắt đầu sử dụng từ 01 ngày trước khi bắt đầu cai sữa – không bao giờ sử dụng sau ngày cai sữa. Đề xuất sử dụng được nêu rõ ở biểu đồ 03.
Nếu thực hiện việc so sánh với phương pháp truyền thống – bỏ qua chu kỳ lên giống đầu tiên sau khi cai sữa – chúng ta có thể thấy phương pháp mới – sử dụng Altrenogest trong 11 hay 12 ngày sau cai sữa – giúp làm giảm được 15 ngày không sản xuất (NPD) so với 26 ngày không sản xuất (NPD).
Biểu đồ 03: Quy trình sử dụng Altrenogest cho những nái có thể trạng kém khi cai sữa lứa đầu tiên
Hai ngày trước khi cai sữa, cần phân loại nái cai sữa lứa đầu tiên và những nái có thể trạng gầy ở tất cả các lứa đẻ. Ngày sau đó – 01 ngày trước khi cai sữa – Altrenogest bắt đầu được cấp cho nhóm này. Altrenogest cũng được cho ăn vào ngày cai sữa và những nái này cũng áp dụng quy trình tương tự như những nái còn lại bao gồm quy trình cai sữa, khu vực chuồng nuôi, nguồn dinh dưỡng kể cả việc cho ăn tự do (flushing) và sử dụng cám nuôi con.
Altrenogest được tiếp tục cho ăn thêm 06 ngày sau khi cai sữa đảm bảo tổng ngày sử dụng Altrenogest là 08 ngày (01 ngày trước khi cai sữa + ngày cai sữa + 06 ngày sau cai sữa). Theo quy trình này thì ngày cuối cùng sử dụng Altrenogest là 01 ngày trước khi cai sữa nhóm nái kế tiếp theo quy trình thông thường của trại. Bởi vì, những nái sử dụng Altrenogest sẽ tự động lên giống sau khi ngừng sử dụng Altrenogest được 04 – 05 ngày tương ứng với nhóm nái cai sữa thông thường. Những nái được hỗ trợ điều trị bằng Altrenogest sẽ được xếp chung vào nhóm nái sản xuất kế tiếp.
Nếu phương pháp này được áp dụng đều đặn thì số lương nái phối theo tuần sẽ không bị giảm (ngoại trừ nhóm đầu tiên khi bắt đầu áp dụng) bởi vì mỗi tuần đều có một số nái sẽ được chuyển qua nhóm phối kế tiếp, và chính bản thân của nhóm phối này cũng sẽ nhận những nái từ nhóm trước đó chuyển sang. Vì thế, số lượng nái phối hầu như sẽ được duy trì ổn định và chuỗi năng suất sẽ không bị ảnh hưởng.
Biểu đồ 04: Kết quả của việc sử dụng Altrenogest trên nái lứa 02 ngày sau trong vòng 07 ngày cai sữa đối với tỷ lệ đậu thai
Biểu đồ 05: Kết quả của việc sử dụng Altrenogest trên nái lứa 02 ngày sau trong vòng 07 ngày cai sữa đối với tổng số con sinh ra
Biểu đồ 06: Kết quả của việc sử dụng Altrenogest trên nái lứa 02 ngày sau trong vòng 07 ngày cai sữa đối với số ngày không sản xuất.
Nguồn thông tin: C. Pereida et al. IPVS Cancún (Mexico) 2012. Được thực hiện tại trại 1,850 nái
Nghiên cứu:
Tại IPVS 2012, Pereida và cộng sự đã mang đến những điều có giá trị về việc sử dụng Altrenogest trên nhóm nái cai sữa lứa 01 trong vòng 07 ngày từ khi cai sữa và sự cải thiện năng suất trên những nái này ở lứa 02 được thể hiện ở biểu đồ số 04, 05 và 06:
- Tỷ lệ đẻ cải thiện từ 80,7% lên 90%
- Tổng số con sinh ra tăng trung bình 0,3 con/lứa
- Số ngày không sản xuất giảm được 24,5 ngày: từ 79,3 ngày xuống còn 54,8 ngày
Việc giảm số ngày không sản xuất và tăng năng suất sinh sản (tỷ lệ đẻ và số con sinh ra) rõ ràng đã bù lại phần chi phí trong việc sử dụng Altrenogest.
Dĩ nhiên, để hạn chế sự suy giảm thể trạng của nái, chiến lược gia tăng lượng ăn cho nái trong giai đoạn nuôi con cần được áp dụng bao gồm:
- Làm mát chuồng nuôi
- Tập cho nái đứng lên thường xuyên
- Vệ sinh máng ăn hàng ngày
- Sử dụng thức ăn đậm đặc và cho ăn nhiều lần trong ngày
- Tránh tình trạng thức ăn bị lên men (nhiệt độ cao trong chuồng nuôi con dễ làm thức ăn lên men)
- Cho uống nước tự do, bổ sung nước uống
- Tốc độ nước uống hợp lý (tối thiểu 2 lít/phút)
Virbac Team
http://www.repropigdigitalmagazine.com/EN/Repropig4/assets/resources/Second_parity_syndrome.pdf
- Altrenogest li>
- Kiểm soát hội chứng lứa 2 li>
- Altrenogest là Progesterone li>
- virbac li> ul>
- Giống vịt CT1234 phù hợp điều kiện chăn nuôi tại Hải Phòng
- Bắc Ninh đẩy mạnh ứng dụng công nghệ vào chẩn đoán bệnh mới nổi và tái nổi ở gia súc
- 10 sai lầm phổ biến khi chống nóng cho gà
- Chăn nuôi gia cầm không kháng sinh: Đánh giá các giải pháp thay thế để tối ưu hóa năng suất và hiệu quả thức ăn
- “Khẩu phần ăn protein thấp” đem lại lợi ích cho vật nuôi và người chăn nuôi
- Giống gà NG15: Bước tiến mới trong chọn tạo giống gia cầm nội địa
- Lựa chọn dạng lysine tổng hợp tốt nhất: Phân tích & so sánh
- Ngành thú cưng lên ngôi: Doanh nghiệp chạy đua giành thị phần
- Độc tố nấm mốc và chất lượng trứng gia cầm
- Tình trạng phân lỏng trong chăn nuôi và những tác động kinh tế
Tin mới nhất
T7,13/06/2026
- Xuất khẩu thịt heo mang tín hiệu tích cực cho ngành nông nghiệp Argentina
- Vận hành tổ hợp gà thịt ứng dụng công nghệ Châu Âu tại Tây Ninh
- Gia Lai quyết tâm đưa chăn nuôi trở thành ngành kinh tế mũi nhọn
- Phát hiện vi rút Lở mồm long móng (LMLM) serotype A trên gia súc tại các tỉnh Cao Bằng và Thái Nguyên
- Trứng gà rớt giá, người nuôi lỗ nặng, bán lẻ giảm nhỏ giọt
- Vilico chốt giá chuyển nhượng dự án thịt bò Tam Đảo hơn 1.170 tỷ đồng cho công ty con
- UBND tỉnh Khánh Hòa ban hành đề án phát triển sản phẩm dê, cừu thành sản phẩm Halal
- Điện Biên khởi công trang trại chăn nuôi heo 120 tỷ đồng tại Mường Pồn
- Olmix Asialand Việt Nam và Boehringer Ingelheim trao tặng kho lạnh vaccine cho siêu trang trại gà DHN Tây Ninh 2
- Thúc đẩy hợp tác chiến lược: Hội Chăn nuôi Việt Nam làm việc tại Trường Đại học Tân Trào trước thềm Đại hội Quốc tế AAAP 21
- Chuyên gia bàn giải pháp sử dụng kháng sinh có kiểm soát trong chăn nuôi
- Ngành sữa Việt Nam: Cơ hội “bứt phá” từ nội lực
- Dịch tả heo châu Phi: Hiện trạng và giải pháp kiểm soát hiệu quả (Phần 1)
- Bộ NN&MT mở đợt ‘truy quét’ việc lạm dụng chất kích tăng trưởng, tăng trọng
- Cargill rút khỏi ngành thức ăn thủy sản tại Việt Nam, đóng cửa nhà máy tại Đồng Tháp và Long An
- Chăn nuôi dê bền vững theo chuỗi giá trị: Chủ nhà hàng là mắt xích quan trọng
- Da khỏe, lông đẹp: Chiến lược dinh dưỡng hiệu quả cho heo con sau cai sữa
- Lo ngại bệnh than, Campuchia ngừng nhập một số sản phẩm từ Thái Lan
- Cạn tiền, một công ty tại Nam Phi phải tiêu hủy hơn 350.000 con gà
- Bệnh Lymphoid Leukosis có triệu chứng như thế nào trên gà thịt lông màu?






























Bình luận mới nhất