Hai độc tố chính nguy hiểm cho chăn nuôi bò sữa và sức khỏe bò là những độc tố nấm mốc từ nấm và nội độc tố từ vi khuẩn. Cả hai loại độc tố này có thể làm tăng nguy cơ sức khỏe của động vật đối với độc tố khác. Chúng ta khảo sát mối liên kết giữa các độc tố rất khác nhau này và cách thức tốt nhất để quản lí cả hai rủi ro.
Độc tố từ bên trong Một trong những vấn đề của nội độc tố là chúng có thể được sinh ra trong dạ cỏ. Không phải tất cả mọi loại vi khuẩn đều sản sinh ra nội độc tố, chỉ có vi khuẩn Gram âm. Thuật ngữ vi khuẩn Gram âm là dựa trên phản ứng với sự biến màu Gram dưới kính hiển vi. Vi khuẩn Gram âm không giữ lại màu nhuộm, chủ yếu là bởi vì cấu trúc màng tế bào của chúng chứa lipopolysaccharides (LPS hay gọi là nội độc tố) trên màng ngoài của tế bào. Khi vi khuẩn Gram âm chết, thì nội độc tố được giải phóng. Trong suốt thời kì phát triển nhanh của vi khuẩn Gram âm, cũng có thể có sự “lột da” nội độc tố đáng kể.
Nội độc tố luôn luôn hiện diện trong dạ cỏ ở một mức độ nào đó, nhưng ở mức cao hơn, chúng có thể gây hại đến tính toàn vẹn của thành ruột và ảnh hưởng đến sức khỏe vật nuôi. Sự sản sinh nội đốc tố là một trong những hệ quả tiềm năng của chứng nhiễm toan bởi vì khi cho ăn mức thức ăn hạt cao hơn, thì sẽ có một sự thay đổi tổng thể từ vi khuẩn Gram dương sang vi khuẩn Gram âm. Hình 1 cho thấy mức nội độc tố tăng đáng kể như thế nào nếu dạ cỏ vẫn ở mức pH dưới 6 kéo dài trong một khoảng thời gian. Thử thách chứng nhiễm toan dạ cỏ cận cấp tính (SARA/sub-acute ruminal acidosis) thường được mô tả là pH dạ cỏ dưới 5.8 trong vòng hơn 5 giờ/ ngày, vì thế SARA cũng tiêu biểu một nguy cơ nội độc tố.
Nội độc tố có thể tác động đến nút thắt/mối nối (tight junctions) tế bào hoặc gây chết tế bào biểu mô, làm tăng sự hấp thu các chất không mong muốn vào dòng máu. Bản thân nội độc tố cũng có thể đi vào dòng máu, và nghiên cứu cho thấy có một mối liên kết giữa nội độc tố và bệnh viêm móng (Hình 2) và những vấn đề về sức khỏe khác. Một trong những ảnh hưởng chính của nội độc tố là đáp ứng viêm kích, tiêu biểu một sự lãng phí năng lượng của vật nuôi cũng như hủy hoại tế bào dẫn đến các vấn đề về sức khỏe. Hình 2 cho thấy Biomin® Bioprotection Mix trong Mycofix® có thể làm giảm một số hủy hoại này như thế nào. Đáp ứng đối với nội độc tố cũng có thể làm giảm đáp ứng miễn dịch thích đáng, vì vậy làm gia tăng tính nhạy cảm với bệnh.
Tính thẩm thấu cao do mức carbohydrate hòa tan kết hợp với SARA có thể làm tăng lượng nội độc tố đi vào dòng máu. Thẩm thấu cao làm cho nước thoát ra khỏi dòng máu tăng, dẫn đến một số tế bào biểu mô bị bung ra và cuối cùng chết, cho phép sự hấp thụ nội độc tố và các chất không mong muốn khác tăng lên, chẳng hạn như độc tố nấm mốc.
Độc tố nấm mốc và nội độc tố
Một số độc tố nấm mốc, chẳng hạn nhóm trichothecenes phổ biến, cũng có thể tác động đến chức năng rào cản của đường ruột và vì thế làm tăng nguy cơ hấp thu nội độc tố vào máu. Tương tự, ảnh hưởng tiêu cực của nội độc tố lên biểu mô dạ cỏ có thể làm tăng sự hấp thu độc tố nấm mốc, làm gia tăng nguy cơ cho những vật nuôi dù khó hấp thu những độc tố như fumonisins. Cả độc tố nấm mốc và nội độc tố đều có thể gây ra viêm kích và giảm miễn dịch (thông qua việc giảm đáp ứng hoặc ảnh hưởng trực tiếp đến các tế bào miễn dịch) và cả hai loại độc tố có thể gây ảnh hưởng, và trở nên trầm trọng hơn do sự tổn hại của gan.
Ảnh hưởng của nhiệt độ
Có một mối liên kết rất lớn giữa stress nhiệt và nội độc tố. Stress nhiệt làm tăng lưu lượng máu từ dạ cỏ đến da. Điều này lấy đi lượng oxi cần thiết của tế bào biểu mô dạ dày và cho phép các chất độc tích tụ. Sự hấp thu nội độc tố có thể gia tăng qua những tế bào bị phá hủy này. Stress nhiệt cũng có thể làm tăng tác hại của độc tố nấm mốc. Ngoài ra, cả độc tố nấm mốc và nội độc tố có thể làm tăng và kéo dài các ảnh hưởng tiêu cực của stress nhiệt.
Quản lí nội độc tố và độc tố nấm mốc
Việc quản lí phải bao gồm những bước làm giảm stress nhiệt và cân bằng khẩu phần theo nhu cầu khác nhau về năng suất và tình trạng dạ cỏ. Mycofix® Plus có ba chiến lược giúp giải quyết ảnh hưởng kết hợp của nội độc tố và độc tố nấm mốc. Thành phần hấp phụ hiệu quả có thể hấp phụ đồng thời các nội độc tố và độc tố nấm mốc với tính hiệu quả cao. (Hình 3).Ngoài sự hấp phụ, phương pháp chuyển hóa sinh học hiệu quả và duy nhất đối với các độc tố nấm mốc khó bị hấp phụ như trichothecenes là rất quan trọng cần xử lý những ảnh hưởng trực tiếp của chúng lên vật nuôi và sự tăng cường gián tiếp gây hại do nội độc tố. Chiến lược thứ ba của Mycofix® Plus là cung cấp sự bảo vệ cho các tế bào biểu mô dễ bị tổn thương, tế bào gan và tế bào miễn dịch với sự bảo vệ sinh học đã được nghiên cứu chứng minh có nguồn gốc từ chất chiết xuất thực vật và các thành phần từ tảo.
Tiến sĩ Timothy Jenkins, Nhà khoa học phát triển
Science & Solutions No.53 – BIOMIN
- độc tố nấm mốc li>
- Nội độc tố li> ul>
- Dịch lở mồm long móng chủng vi rút SAT1 tiếp tục lan rộng, gia tăng nguy cơ xâm nhập vào khu vực Đông Nam Á
- SAT1 – Chủng virus lở mồm long móng cần được nhận diện và chẩn đoán đúng ngay từ thực địa
- Cập nhật tình hình bệnh Lở mồm long móng, nguy cơ xâm nhập chủng SAT 1 qua khu vực bên giới và giải pháp giám sát, phòng chống dịch bệnh
- Mô hình nuôi vịt Grimaud trên sàn nhựa: Hướng đi mới giúp nông dân giảm chi phí và tăng năng suất chăn nuôi
- Hiệu quả của kháng sinh Tylvalosin trên heo thịt khi đối diện thử thách với chủng virus PRRS tự nhiên
- Nhà máy TĂCN thông minh: Tích hợp tự động hóa, IoT và trí tuệ nhân tạo
- Ứng dụng công nghệ chăn nuôi bò Hanwoo trong chăn nuôi bò H’Mông: Những kết quả bước đầu từ khảo sát thực địa tại Tuyên Quang
- Chủ động xây dựng hệ thống phòng bệnh lở mồm long móng: Hướng phát triển bền vững cho ngành chăn nuôi
- Bài học từ 30 năm chống cúm gia cầm H5N1 tại châu Á: Cảnh báo cho nguy cơ dịch bệnh mới nổi
- Gắn thiết bị GPS cho đàn bò: Hướng đi mới trong phát triển chăn nuôi thông minh ở vùng cao
Tin mới nhất
T6,10/07/2026
- Dịch lở mồm long móng chủng vi rút SAT1 tiếp tục lan rộng, gia tăng nguy cơ xâm nhập vào khu vực Đông Nam Á
- Định hướng phát triển ngành chăn nuôi thỏ đến năm 2035: Hướng tới ngành hàng hiện đại, bền vững và có sức cạnh tranh
- ADM đồng hành cùng IPVS 2026: Thúc đẩy đổi mới khoa học ngành chăn nuôi heo
- Bắc Ninh: Hơn 550 con lợn chết sau sự cố mất điện do sét đánh, thiệt hại gần 4,5 tỷ đồng
- Hòa Phát bán hơn 212.000 con heo và gần 177.000 tấn thức ăn chăn nuôi trong nửa đầu năm 2026
- BAF đề xuất đầu tư dự án tổ hợp trang trại chăn nuôi công nghệ cao và nhà máy chế biến thực phẩm tại Hưng Yên
- Tập đoàn Mavin nhận danh hiệu “Doanh nghiệp Xanh” tại Diễn đàn Net Zero 2026 của VCCI
- SAT1 – Chủng virus lở mồm long móng cần được nhận diện và chẩn đoán đúng ngay từ thực địa
- Cập nhật tình hình bệnh Lở mồm long móng, nguy cơ xâm nhập chủng SAT 1 qua khu vực bên giới và giải pháp giám sát, phòng chống dịch bệnh
- Mô hình nuôi vịt Grimaud trên sàn nhựa: Hướng đi mới giúp nông dân giảm chi phí và tăng năng suất chăn nuôi
- Ngành chăn nuôi heo trước thách thức mới trên hành trình phát triển bền vững
- Chuyên gia bàn giải pháp sử dụng kháng sinh có kiểm soát trong chăn nuôi
- Ngành sữa Việt Nam: Cơ hội “bứt phá” từ nội lực
- Dịch tả heo châu Phi: Hiện trạng và giải pháp kiểm soát hiệu quả (Phần 1)
- Bộ NN&MT mở đợt ‘truy quét’ việc lạm dụng chất kích tăng trưởng, tăng trọng
- Cargill rút khỏi ngành thức ăn thủy sản tại Việt Nam, đóng cửa nhà máy tại Đồng Tháp và Long An
- Chăn nuôi dê bền vững theo chuỗi giá trị: Chủ nhà hàng là mắt xích quan trọng
- Da khỏe, lông đẹp: Chiến lược dinh dưỡng hiệu quả cho heo con sau cai sữa
- Lo ngại bệnh than, Campuchia ngừng nhập một số sản phẩm từ Thái Lan
- Cạn tiền, một công ty tại Nam Phi phải tiêu hủy hơn 350.000 con gà

























Bình luận mới nhất