Ngày nay, các nhà sản xuất đòi hỏi những con heo phải phát triển nhanh nên đã có nhiều công thức khẩu phần giàu năng lượng được xây dựng. Dầu cũng như các thành phần giàu chất béo khác được sử dụng để tổ hợp khẩu phần có hàm lượng năng lượng cao trong thức ăn. Tuy nhiên, khả năng tiêu hóa chất béo không phải là tối ưu đối với heo con sau cai sữa. Vì vậy các chất nhũ hóa chất béo là một giải pháp để giúp hỗ trợ sự tiêu hóa chất béo của heo con cai sữa.
Người ta thường cho rằng heo phát triển nhanh hơn khi chúng có khối lượng nặng hơn tại thời điểm chuyển vào chuồng vỗ béo. Theo quy tắc chung, khi bắt đầu giai đoạn vỗ béo, với mỗi kg khối lượng cơ thể cao hơn thì giai đoạn vỗ béo được rút ngắn một tuần. Điều này sẽ tiết kiệm chi phí thức ăn trong một tuần, thậm chí còn giúp kích thích sự tăng trưởng tối ưu sau cai sữa khi lượng ăn vào tương đối thấp và do đó ít tốn kém hơn.
Khả năng tiêu hóa chất béo hạn chế ở heo con cai sữa
Thông thường, heo con cai sữa được cung cấp khẩu phần ăn giàu năng lượng, bao gồm nguyên liệu có lượng dầu cao và giàu chất béo. Tuy nhiên, điều đó không phải luôn luôn dẫn đến sự tăng trưởng tối ưu mà là nhằm hỗ trợ. Điều này có thể được giải thích bởi thực tế rằng việc tiêu hóa chất béo bị giới hạn ở heo con cai sữa, bởi vì heo con không sản xuất đủ lượng phospholipid mật để tạo nhũ tương hiệu quả.
Chất nhũ hóa chất béo có thể cải thiện đáng kể sự tăng trưởng và FCR của heo con cai sữa. Ảnh: Ronald Hissink
Hơn nữa, một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng ở heo con cai sữa lượng lipase tuyến tụy tiết ra rất thấp. Mặc dù hoạt động lipase tuyến tụy tăng theo độ tuổi, nhưng hoạt động này sẽ giảm đáng kể tại thời điểm cai sữa. Quá trình nhũ tương chất béo kém sẽ dẫn đến các vấn đề về tiêu hóa và hoạt động lipase tuyến tụy thấp sẽ làm ức chế sự tăng trưởng. Do đó các chất nhũ hóa là giải pháp cho những vấn đề này, chúng giúp tăng cường quá trình nhũ tương dầu trong nước, kích thích quá trình tiêu hóa chất béo bằng lipase và thậm chí cải thiện sự vận chuyển, hấp thu chất dinh dưỡng nói chung.
Chất nhũ hóa hỗ trợ tiêu hóa chất béo như thế nào?
Để heo con cai sữa có thể sử dụng tối đa chất béo trong khẩu phần ăn, thì phải trải qua 3 giai đoạn tiêu hóa chất béo:
1. Trong giai đoạn đầu tiên của quá trình tiêu hóa chất béo, chất béo sẽ được nhũ hóa bởi tác động của muối mật. Vì chất béo không hòa tan trong nước nên các giọt chất béo nhỏ sẽ tích lũy thành những giọt chất béo lớn hơn trong môi trường nước của ruột non. Chất nhũ hóa sẽ thúc đẩy quá trình nhũ tương dầu trong nước và có thể nhũ hóa các giọt lipid lớn thành những giọt lipid nhỏ.
2. Khi có tác dụng của chất nhũ hóa, kích thước của các giọt chất béo giảm xuống giúp bề mặt tiếp xúc được tăng lên do đó sẽ có nhiều chất béo được tiếp xúc với lipase và được thủy phân nhiều hơn. Phân tử chất béo, Triglyceride, sẽ được phân hủy bởi tác động của lipase thành 2 axit béo tự do và 1 hoặc sn2-monoglyceride.
3. Sau khi thủy phân, hỗn hợp mixen với các axit béo, sn2-monoglycerides, muối mật và phospholipid mật được hình thành. Những hỗn hợp mixen này tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển các chất lipophilic trong môi trường nước của lòng ruột và cuối cùng qua màng không thấm nước xung quanh các tế bào ruột. Chất nhũ hóa thúc đẩy sự hình thành các hỗn hợp mixen nhỏ và có tính thấm nước cao, cải thiện sự vận chuyển chất dinh dưỡng thông qua màng không cho nước đi qua. Do đó, sự hấp thu chất béo được cải thiện.
Chất nhũ hóa không chỉ thúc đẩy nhũ tương chất béo, thủy phân chất béo và hấp thu chất béo, mà còn cải thiện sự hấp thu chất dinh dưỡng nói chung. Điều này được giải thích bởi sự can thiệp của các lysophospholipid đặc biệt với lớp phospholipid kép của màng tế bào của các tế bào biểu mô, làm tăng tính thấm của chúng, do đó tạo điều kiện hấp thu được nhiều chất dinh dưỡng.
Chất nhũ hóa giúp cải thiện tăng trưởng và FCR
Chất nhũ hóa cho thấy có khả năng cải thiện đáng kể tỷ lệ tăng trưởng và tỷ lệ chuyển đổi thức ăn (FCR) ở heo con cai sữa. Những kết quả này thu được tại một trang trại thương mại ở Đức, thuộc tổ chức nghiên cứu Livestock Feed Tests Đan Mạch.
Thí nghiệm được thực hiển trên tổng số 384 heo con cai sữa (4 tuần tuổi). Heo con được chia thành 12 chuồng, mỗi chuồng có 32 con. Trong đó, có 6 ô được sử dụng làm nhóm đối chứng (không có chất nhũ hóa) và 6 ô khác được sử dụng làm nhóm nghiệm thức có bổ sung chất nhũ hóa. Những con heo trong nhóm nghiệm thức được bổ sung 500g chất nhũ hóa trong mỗi tấn thức ăn vào khẩu phần ăn của chúng trong thời gian 6 tuần. Khẩu phần ăn cơ bản là giống nhau cho cả hai nhóm. Trang trại áp dụng 2 giai đoạn cho ăn mỗi 3 tuần. Trong cả hai loại thức ăn, chất béo chủ yếu có nguồn gốc từ đậu nành.
Khối lượng trung bình ban đầu có thể so sánh giữa các nhóm (6.11kg và 6.02kg đối với nhóm đối chứng và nhóm nghiệm thức tương ứng). Sau 6 tuần, heo con trong nhóm đối chứng có khối lượng cơ thể kết thúc là 21.8kg, trong khi heo con trong nhóm nghiệm thức có khối lượng cơ thể kết thúc là 23.1kg, cao hơn đáng kể. Như trong Hình 2, tăng trọng trung bình hàng ngày được cải thiện đáng kể bằng cách bổ sung chất nhũ hóa. FCR cũng tốt hơn đáng kể từ 1.719 ở nhóm đối chứng xuống còn 1.539 ở nhóm nghiệm thức.
Ảnh hưởng của chất nhũ hóa đối với sinh trưởng và FCR của heo con từ 1-6 tuần sau cai sữa.
Chất nhũ hóa giúp cải thiện nhũ tương chất béo
Những kết quả thử nghiệm này chứng minh rằng việc bổ sung chất nhũ hóa trong khẩu phẩn ăn thương phẩm có thể cải thiện đáng kể sự tăng trưởng và FCR của heo con cai sữa. Điều này có thể được giải thích trước hết là nhờ sự nhũ hóa chất béo được cải thiện nên tiêu hóa được chất béo, cung cấp cho heo con nhiều năng lượng hơn. Thứ hai, tiêu hóa dinh dưỡng nói chung, cụ thể hơn là tiêu hóa protein và hấp thu chất dinh dưỡng cũng được cải thiện, cho phép heo con phát triển nhiều hơn.
Biên dịch: Ecovet Team (theo PigProgress)
Nguồn: Ecovet
- chăm sóc heo con li>
- lợn con li>
- heo con cai sữa li>
- khả năng tiêu hóa chất béo li> ul>
- SAT1 – Chủng virus lở mồm long móng cần được nhận diện và chẩn đoán đúng ngay từ thực địa
- Cập nhật tình hình bệnh Lở mồm long móng, nguy cơ xâm nhập chủng SAT 1 qua khu vực bên giới và giải pháp giám sát, phòng chống dịch bệnh
- Mô hình nuôi vịt Grimaud trên sàn nhựa: Hướng đi mới giúp nông dân giảm chi phí và tăng năng suất chăn nuôi
- Hiệu quả của kháng sinh Tylvalosin trên heo thịt khi đối diện thử thách với chủng virus PRRS tự nhiên
- Nhà máy TĂCN thông minh: Tích hợp tự động hóa, IoT và trí tuệ nhân tạo
- Ứng dụng công nghệ chăn nuôi bò Hanwoo trong chăn nuôi bò H’Mông: Những kết quả bước đầu từ khảo sát thực địa tại Tuyên Quang
- Chủ động xây dựng hệ thống phòng bệnh lở mồm long móng: Hướng phát triển bền vững cho ngành chăn nuôi
- Bài học từ 30 năm chống cúm gia cầm H5N1 tại châu Á: Cảnh báo cho nguy cơ dịch bệnh mới nổi
- Gắn thiết bị GPS cho đàn bò: Hướng đi mới trong phát triển chăn nuôi thông minh ở vùng cao
- Đồng Nai: Tiêu hủy gần 2.000 con lợn mắc dịch tả lợn châu Phi, khẩn trương ngăn dịch lây lan
Tin mới nhất
T6,10/07/2026
- Tập đoàn Mavin nhận danh hiệu “Doanh nghiệp Xanh” tại Diễn đàn Net Zero 2026 của VCCI
- SAT1 – Chủng virus lở mồm long móng cần được nhận diện và chẩn đoán đúng ngay từ thực địa
- Cập nhật tình hình bệnh Lở mồm long móng, nguy cơ xâm nhập chủng SAT 1 qua khu vực bên giới và giải pháp giám sát, phòng chống dịch bệnh
- Mô hình nuôi vịt Grimaud trên sàn nhựa: Hướng đi mới giúp nông dân giảm chi phí và tăng năng suất chăn nuôi
- Hội Chăn nuôi Việt Nam và Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế: Thúc đẩy phối hợp, chuẩn bị cho AAAP 2026
- Hướng dẫn mới về hồ sơ đăng ký xuất khẩu thực phẩm có nguồn gốc động vật sang Trung Quốc theo Nghị định 280
- Gỡ vướng thủ tục trong lĩnh vực nông nghiệp: Dabaco kiến nghị hoàn thiện chính sách về thức ăn chăn nuôi và an toàn thực phẩm
- Hiệu quả của kháng sinh Tylvalosin trên heo thịt khi đối diện thử thách với chủng virus PRRS tự nhiên
- Nhà máy TĂCN thông minh: Tích hợp tự động hóa, IoT và trí tuệ nhân tạo
- FUJINUCO kỷ niệm chặng đường 15 năm phát triển, tiếp tục mở rộng hệ sinh thái ngành chăn nuôi
- Ngành chăn nuôi heo trước thách thức mới trên hành trình phát triển bền vững
- Chuyên gia bàn giải pháp sử dụng kháng sinh có kiểm soát trong chăn nuôi
- Ngành sữa Việt Nam: Cơ hội “bứt phá” từ nội lực
- Dịch tả heo châu Phi: Hiện trạng và giải pháp kiểm soát hiệu quả (Phần 1)
- Bộ NN&MT mở đợt ‘truy quét’ việc lạm dụng chất kích tăng trưởng, tăng trọng
- Cargill rút khỏi ngành thức ăn thủy sản tại Việt Nam, đóng cửa nhà máy tại Đồng Tháp và Long An
- Chăn nuôi dê bền vững theo chuỗi giá trị: Chủ nhà hàng là mắt xích quan trọng
- Da khỏe, lông đẹp: Chiến lược dinh dưỡng hiệu quả cho heo con sau cai sữa
- Lo ngại bệnh than, Campuchia ngừng nhập một số sản phẩm từ Thái Lan
- Cạn tiền, một công ty tại Nam Phi phải tiêu hủy hơn 350.000 con gà

























Bình luận mới nhất