Bổ sung các nguyên liệu chứa chất xơ cao có thể tác động tiêu cực đến DE và ME trong khẩu phẩn thức ăn cho heo. Tuy nhiên, tỷ lệ này không ảnh hưởng đến giá trị tính toán cho DE và ME có trong nguyên liệu thức ăn chứa hàm lượng chất xơ tương đối cao.
Mức năng lượng tiêu hóa và năng lượng trao đổi trong nguyên liệu thức ăn cho heo thường được xác định bằng sử dụng khẩu phần chỉ bao gồm một nguyên liệu thử nghiệm và các quy trình khác nhau để tính lượng DE và ME trong nguyên liệu. Tuy nhiên, liệu tỷ lệ sử dụng khác nhau có làm thay đổi giá trị DE và ME của khẩu phần?
Các nghiên cứu trước đây sử dụng lúa mì cán nghiền hoặc cám lúa mì chỉ ra rằng tỷ lệ bổ sung khác nhau có thể dẫn đến sự thay đổi giá trị của DE và ME. Nếu có một điểm bão hòa trong khả năng lên men ở ruột sau heo choai, có thể ảnh hưởng không rõ ràng đến lượng năng lượng thu được của heo từ lên men các nguyên liệu chứa xơ cao ở ruột sau. Nếu đúng như vậy, có thể giả thuyết rằng DE và ME thu được từ một nguyên liệu chứa xơ cao có thể bị giảm với tỷ lệ bổ sung ngày càng tăng.
Do đó, một thử nghiệm được tiến hành để kiểm tra giả thiết rằng tỉ lệ bổ sung các nguyên liệu chứa xơ cao trong khẩu phần thực nghiệm làm giảm DE và ME được tính toán trong các nguyên liệu này bởi nồng độ chất xơ cao hơn có thể làm tăng khả năng lên men của xơ. Tăng chất xơ trong khẩu phần ăn có thể làm tăng tỉ lệ di chuyển trong đường tiêu hóa, do đó, làm giảm thời gian lên men. Bốn nguyên liệu chứa chất xơ cao thường được sử dụng là khô dầu hạt cải, khô dầu mầm ngô, củ cải đường và cám mì nghiền mịn(Bảng 1).
Tổng cộng có 20 con heo có khối lượng trung bình khoảng 31kg được sử dụng trong thí nghiệm. Một khẩu phần ăn cơ bản chứa khô dầu bắp, khô dầu đậu nành và một khẩu phần ăn sử dụng bắp – SBM với 30% tinh bột bắp trong tổ hợp thức ăn. Sáu khẩu phần bổ sung được xây dựng bằng cách thay thế 15% hoặc 30% tinh bột bắp, củ cải đường hoặc cám mì nghiền mịn, và 2 khẩu phần ăn được xây dựng bằng 15% hoặc 30% khô dầu hạt cải trong khẩu phần chứa bắp, SBM và 30% tinh bột bắp. Tinh bột bắp được sử dụng để bổ sung chất xơ trong khẩu phần thử nghiệm. Sau khi thử nghiệm về trao đổi năng lượng, một điểm đánh dấu màu đã được đưa vào trong thức ăn và thời gian xuất hiện đầu tiên của dấu này trong hệ tiêu hóa và trong phân đã được ghi lại.
Thời gian đánh dấu màu bắt đầu xuất hiện lần đầu tiên trong phần cuối ruột non không khác nhau giữa các con heo được cho ăn khẩu phần thí nghiệm (Bảng 2). Ngược lại, thời gian đánh dấu màu xuất hiện trong phân lần đầu tiên đã giảm tuyến tính 15% hoặc 30% khô dầu hạt cải, bắp, củ cải đường hoặc cám mì nghiền mịn được thêm vào khẩu phần so với tinh bột bắp. Điều này có thể giải thích sự giảm tiêu hóa năng lượng khẩu phần đã được theo dõi khi thành phần giàu chất xơ được thêm vào, dẫn đến giảm thời gian vận chuyển trong ruột trước, do đó ít thời gian hơn để lên men. Điều này chỉ ra rằng chất xơ trong khẩu phần ăn chủ yếu ảnh hưởng đến tốc độ truyền của thức ăn tiêu hóa trong ruột trước của heo.
Các giá trị tính toán của DE và ME không khác nhau giữa các tỉ lệ bổ sung 15% hoặc 30% trong mỗi thành phần (Bảng 3). Người ta thấy mức DE và ME trong thành phần thức ăn độc lập với tỉ lệ bổ sung chỉ ra rằng dưới các điều kiện trong thử nghiệm này, việc sử dụng năng lượng từ các thành phần thử nghiệm có hiệu quả như nhau trong khẩu phần với tỉ lệ bổ sung là 30% so với 15%. Điều này cho rằng hệ vi sinh vật ở ruột trước không bị ảnh hưởng bởi sự gia tăng chất xơ trong khẩu phần hoặc sự gia tăng chất dinh dưỡng trong ruột già.
Tóm lại, bổ sung nguyên liệu chứa chất xơ cao có thể ảnh hưởng tiêu cực tới lượng DE và ME trong khẩu phần thức ăn cho heo. Tuy nhiên, tỷ lệ bổ sung không ảnh hưởng tới giá trị tính toán DE và ME trong nguyên liệu thức ăn có hàm lượng chất xơ tương đối cao cho thấy khả năng vi khuẩn lên men chất xơ ở heo không bị ảnh hưởng khi bổ sung 30% nguyên liệu chứa chất xơ cao trong khẩu phần. Thời gian xuất hiện lần đầu tiên của thức ăn được tiêu hóa trong phân đã giảm khi lượng chất xơ trong khẩu phần tăng lên cho thấy thời gian vận chuyển giảm ở ruột trước của heo khi ăn nhiều chất xơ, nhưng điều này không ảnh hưởng đến giá trị của DE và ME và ATTD của GE trong các nguyên liệu thử nghiệm.
Biên dịch: Acare VN Team (theo NationalHogFarmer)
Nguồn tin: Acare VN
- chứa xơ cao li>
- DE và ME li> ul>
- Phát triển xét nghiệm tại chỗ có độ nhạy cao cho bệnh dịch tả lợn châu Phi bằng kết hợp phương pháp tách chiết DNA EZ Fast với kỹ thuật LAMP: Đánh giá trên các mẫu máu toàn phần từ lợn bệnh tự nhiên tại Việt Nam
- Đánh giá độc tính tế bào và khảo sát hoạt tính kháng khuẩn in vitro của kháng sinh nano trên một số chủng vi khuẩn escherichia coli phân lập ở đường hô hấp của gà
- Bức tranh toàn cảnh ngành sữa Việt Nam và sức mạnh của chuỗi thức ăn liên kết
- Giảm chi phí thức ăn chăn nuôi: Khi nào nên thay ngô và đậu nành?
- Tối ưu lợi nhuận chăn nuôi khi giá lợn hơi đang cao
- Một số kết quả nghiên cứu về reovirus biến chủng gây bệnh ở thủy cầm tại một số tỉnh miền Bắc
- Công cụ kỹ thuật số mở đường cho ngành bò sữa phát triển bền vững
- Quản lý giai đoạn sinh trưởng ở gà thịt: Duy trì năng suất và tối ưu hóa lợi nhuận
- Đặc điểm phân tử và mô bệnh học của bệnh viêm da nổi cục (Lumpy Skin Disease) trên bò tại miền Bắc Việt Nam trong các đợt bùng phát năm 2020–2021
- Nhận thức và thực hành của chủ cơ sở giết mổ, chế biến thịt lợn đối với phương pháp gây ngất động vật trước khi giết mổ
Tin mới nhất
T3,11/08/2026
- Giá heo hơi ngày 11/8: Mặt bằng giá thấp, thị trường chưa có tín hiệu phục hồi
- Phát triển xét nghiệm tại chỗ có độ nhạy cao cho bệnh dịch tả lợn châu Phi bằng kết hợp phương pháp tách chiết DNA EZ Fast với kỹ thuật LAMP: Đánh giá trên các mẫu máu toàn phần từ lợn bệnh tự nhiên tại Việt Nam
- VSAVA tổ chức chương trình triệt sản miễn phí cho mèo tại TP. Hồ Chí Minh
- Hiệp hội Thức ăn chăn nuôi kiến nghị tháo gỡ nhiều điểm nghẽn trong dự thảo quy định mới
- Trung Quốc: Đàn nái sinh sản giảm khoảng 7% trong nửa đầu năm
- Giá lợn hơi ngày 10/8: Đà giảm chững lại, giá thấp nhất là 58.000 đồng/kg
- Đánh giá độc tính tế bào và khảo sát hoạt tính kháng khuẩn in vitro của kháng sinh nano trên một số chủng vi khuẩn escherichia coli phân lập ở đường hô hấp của gà
- Hoa Kỳ: Tổng đàn lợn đạt 73,67 triệu con
- Diễn đàn Một sức khỏe tại Vietstock 2026: Hướng tới phát triển ngành chăn nuôi bền vững
- Khánh thành Nhà máy sản xuất thức ăn thủy sản Cà Mau – C.P. Việt Nam công suất 124.800 tấn/năm
- Cargill tiếp tục sản xuất thức ăn cá tại nhà máy Biên Hòa và Hưng Yên
- Vượt qua thách thức Gumboro và H9N2 để nâng cao hiệu quả chăn nuôi gia cầm
- Doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi: Chia sẻ khó khăn cùng người chăn nuôi
- Ngành chăn nuôi heo trước thách thức mới trên hành trình phát triển bền vững
- Chuyên gia bàn giải pháp sử dụng kháng sinh có kiểm soát trong chăn nuôi
- Ngành sữa Việt Nam: Cơ hội “bứt phá” từ nội lực
- Dịch tả heo châu Phi: Hiện trạng và giải pháp kiểm soát hiệu quả (Phần 1)
- Bộ NN&MT mở đợt ‘truy quét’ việc lạm dụng chất kích tăng trưởng, tăng trọng
- Cargill rút khỏi ngành thức ăn thủy sản tại Việt Nam, đóng cửa nhà máy tại Đồng Tháp và Long An
- Chăn nuôi dê bền vững theo chuỗi giá trị: Chủ nhà hàng là mắt xích quan trọng


























Bình luận mới nhất