Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn (PRRS) là bệnh phổ biến nhất trong ngành chăn nuôi lợn. Ở lợn nái, vi rút PRRS gây ra vấn đề sinh sản trong thời gian mang thai, bao gồm đẻ non hoặc sẩy thai.
Những con lợn đang tăng trưởng mắc phải bệnh này sẽ có vấn đề về đường hô hấp và tăng trưởng kém. Trong năm 2012, Holtkamp và các đồng nghiệp ước tính thiệt hại hàng năm do virus PRRS gây ra là 664 triệu USD chỉ riêng tại Mỹ. Các nhà sản xuất ở các trang trại lớn hơn sử dụng vắc-xin và các biện pháp an toàn sinh học tăng cường để ngăn chặn toàn bộ đàn gia súc bị triệt tiêu trong một đợt bùng phát vi rút PRRS. Thật không may, những phương pháp này đôi khi mang lại rất ít thành công. Do đó, các biện pháp khác, chẳng hạn như tăng lượng bột đậu tương trong chế độ ăn đang được áp dụng.
Hình minh hoạ
Tăng hàm lượng bột đậu tương có thể giúp giảm bớt những ảnh hưởng của vi rút PRRS. Bột đậu tương là nguồn protein chính cho lợn ăn. Nó cũng chứa isoflavones – chất có đặc tính chống viêm và kháng virút.
Trong số ra tháng 6 năm 2015 của tạp chí Journal of Animal Science, Tiến sĩ Ryan Dilger – trợ lý giáo sư tại trường Đại học Illinois và các đồng nghiệp đã xác định “Ảnh hưởng của hàm lượng bột đậu tương trong chế độ ăn tới hiệu suất tăng trưởng và phản ứng miễn dịch của lợn nhiễm vi rút PRRS”.
Nhóm nghiên cứu cho 64 con lợn cai sữa được tiêm phòng hoặc không tiêm phòng virus PRRS ăn bột đậu tương ở hàm lượng thấp hoặc cao. Các mẫu máu được lấy để xác định ảnh hưởng của bột đậu tương tới phản ứng miễn dịch và để xác định một cơ chế hành động có thể thực hiện. Cuộc thử nghiệm kéo dài 14 ngày.
“Các phân tích tương ứng với giai đoạn đầu, giữa và giai đoạn phục hồi nhiễm vi rút PRRS, thường kéo dài 14 ngày”, Dilger nói.
Những con lợn bị nhiễm virút PRRS đã bị tăng nhiệt, giảm lượng thức ăn tiêu thụ hàng ngày và giảm hiệu quả thức ăn so với những con lợn không bị nhiễm bệnh. Tuy nhiên, trong nhóm bị nhiễm vi rút PRRS, lợn được cho ăn bột đậu tương với hàm lượng cao có xu hướng gia tăng trọng lượng trung bình hàng ngày so với những con lợn được cho ăn ở hàm lượng thấp.
Lợn không bị nhiễm vi rút PRRS có hiệu suất tăng trưởng tương tự cho dù chúng có được cho ăn chế độ ăn chứa bột đậu tương với hàm lượng cao hoặc thấp hay không.
Vào ngày thứ 14, lợn bị nhiễm virút PRRS ăn bột đậu tương với hàm lượng cao có huyết thanh PRRS thấp hơn và TNF-α (một cytokine có liên quan với viêm nhiễm) giảm so với lợn nuôi bằng một chế độ ăn có hàm lượng bột đậu tương thấp. Điều này cho thấy rằng những con lợn bị nhiễm bệnh được cho ăn chế độ ăn có chứa bột đậu tương ở hàm lượng cao đã loại bỏ virút hiệu quả hơn so với lợn bị nhiễm bệnh được cho ăn hàm lượng bột đậu tương thấp.
Nhìn chung, cho lợn nhiễm vi rút PRRS ăn bột đậu tương với hàm lượng cao trong khẩu phần ăn cho lợn có thể làm tăng tốc độ tăng trưởng và hiệu quả trong bố trí sản xuất nhất định.
“Đưa ra những lợi ích sức khỏe cho lợn cai sữa có tiềm năng lớn trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất trong giai đoạn phát triển sau này”, Dilger nói. “Trong khi chúng tôi tập trung vào những lợi ích về miễn dịch và tăng trưởng trong giai đoạn khởi đầu, nghiên cứu trong tương lai cũng sẽ cần phải kết hợp với những lợi ích lâu dài trong suốt giai đoạn nuôi thương phẩm”.
K.P. (Theo Sciencedaily)
Nguồn: Bộ NN&PTNT
- đậu tương li>
- bệnh hô hấp li>
- nguyên liệu tacn li> ul>
- Nhu cầu năng lượng của gia cầm đẻ và nguồn cung
- Nhiều lợi ích từ bổ sung đất sét cho thức ăn của bò sữa
- Điều chỉnh dinh dưỡng nhằm giảm tác động stress nhiệt ở gà thịt
- Khai mạc Hội nghị khoa học thú y thú nhỏ tại Hà Nội: Kết nối lý thuyết với thực hành, hướng tới chuẩn hóa chuyên môn
- Khai mạc InterPetFest Hà Nội 2026: Lễ hội thú cưng quy mô quốc tế lần đầu tiên có mặt tại Thủ đô
- Hội nghị Thú y Thú nhỏ Việt Nam 2026: Cập nhật chuyên sâu phẫu thuật và kiểm soát dấu hiệu sinh tồn
- Vai trò của nucleotide trong dinh dưỡng chức năng – Cải thiện tăng trưởng và khả năng chống chịu dịch bệnh cho vật nuôi với nucleotide tinh khiết
- Cập nhật dinh dưỡng axit amin cho gà thịt
- Quản lý stress cai sữa và tối ưu năng suất heo thịt
- Làn sóng tăng trưởng của thị trường thú cưng và cơ hộ mới cùng ELT Science
Tin mới nhất
T4,22/04/2026
- Tân Long Group hợp tác phát triển mô hình nuôi cá thu Nhật trên đất liền cùng đối tác Nhật Bản và Hàn Quốc
- Nghiên cứu RFSI: Việt Nam có hệ thống lương thực dễ tiếp cận và nguồn cung ứng dồi dào
- Nhu cầu năng lượng của gia cầm đẻ và nguồn cung
- Nhiều lợi ích từ bổ sung đất sét cho thức ăn của bò sữa
- Giá sản phẩm chăn nuôi (giá tại trại) cả nước ngày 21/04/2026
- Acid Glycyrrhizic và chiết xuất cam thảo – Ý nghĩa trong kiểm soát sức khỏe trên đàn vật nuôi
- Kỹ thuật úm gà chính xác – Biến những gà con yếu ớt thành đàn gà năng suất cao
- Điều chỉnh dinh dưỡng nhằm giảm tác động stress nhiệt ở gà thịt
- Cuộc đua chăn nuôi năm 2026 bùng nổ: Loạt ‘đại gia’ nhắm đích nghìn tỷ
- Tái định hình chiến lược sử dụng khoáng vi lượng để đáp ứng mục tiêu chăn nuôi bền vững
- AChaupharm: Nấm phổi gia cầm, hiểm họa thầm lặng khi giao mùa
- Chuyên gia bàn giải pháp sử dụng kháng sinh có kiểm soát trong chăn nuôi
- Ngành sữa Việt Nam: Cơ hội “bứt phá” từ nội lực
- Dịch tả heo châu Phi: Hiện trạng và giải pháp kiểm soát hiệu quả (Phần 1)
- Bộ NN&MT mở đợt ‘truy quét’ việc lạm dụng chất kích tăng trưởng, tăng trọng
- Cargill rút khỏi ngành thức ăn thủy sản tại Việt Nam, đóng cửa nhà máy tại Đồng Tháp và Long An
- Chăn nuôi dê bền vững theo chuỗi giá trị: Chủ nhà hàng là mắt xích quan trọng
- Da khỏe, lông đẹp: Chiến lược dinh dưỡng hiệu quả cho heo con sau cai sữa
- Lo ngại bệnh than, Campuchia ngừng nhập một số sản phẩm từ Thái Lan
- Cạn tiền, một công ty tại Nam Phi phải tiêu hủy hơn 350.000 con gà
























Bình luận mới nhất