Là một bệnh truyền nhiễm cấp tính, lây lan rộng trên vịt, ngan. Bệnh gây tỷ lệ chết cao nếu gia cầm mắc bệnh cùng lúc với bệnh tụ huyết trùng, E.coli.
Ngan mắc bệnh bại huyết tiêu chảy phân màu xanh lá cây
1. Đặc điểm chung của bệnh
Bệnh bại huyết trên gia cầm do trực khuẩn Riemerella anatipestifer gây ra.
Là một bệnh truyền nhiễm cấp tính, lây lan rộng trên vịt, ngan; ít xảy ra ở ngỗng, gà tây; các loài chim nước, gà và gà lôi thỉnh thoảng có thể bị mắc bệnh.
Bệnh thường ghép với bệnh E. coli, tụ huyết trùng gây tỷ lệ chết cao trên vịt, ngan.
Trong môi trường ẩm thấp và ở nền chuồng, vi khuẩn có thể sống từ 13 – 27 ngày, vi khuẩn dễ bị tiêu diệt bởi các thuốc khử trùng thông thường.
Đường lây bệnh: Bệnh được lây từ gia cầm bệnh sang gia cầm khỏe theo 3 cách: qua đường hô hấp; qua đường tiêu hóa (thức ăn, nước uống); qua các vết tổn thương trên da, đặc biệt là bàn chân.
2. Triệu chứng
* Ở vịt, ngan: Mọi lứa tuổi đều có thể mắc bệnh nhưng vịt, ngan con từ 1 – 7 tuần tuổi dễ mắc bệnh nhất; vịt, ngan nhỏ hơn 5 tuần tuổi thường chết trong 1- 2 ngày sau khi xuất hiện các triệu chứng lâm sàng. Thời gian nung bệnh thường từ 2 – 5 ngày. Tỷ lệ chết có thể đến 50 %, nếu ghép với bệnh khác, tỷ lệ chết cao hơn.
Vịt, ngan bị bệnh thường có triệu chứng như sau:
– Tiêu chảy, phân màu xanh lá cây;
– Ủ rũ, chảy nước mắt, nước mũi, ho nhẹ, hắt hơi;
– Sưng phù đầu, cổ; ngoẹo cổ; mất thăng bằng;
– Viêm khớp, đi lại khó khăn;
– Hay nằm ngửa, hai chân bơi chèo.
* Ở gà tây: Bệnh thường xảy ra ở gà tây từ 5 – 15 tuần tuổi. Gà thường có biểu hiện khó thở, buồn ngủ, lưng gù, lờ đờ và cổ bị xoắn, viêm khớp, viêm bàn chân, viêm da.
3. Bệnh tích
Đặc trưng nhất là sự tiết dịch có sợi huyết (fibrin) ở màng bao tim, trên bề mặt gan và viêm túi khí.
Khi bệnh mới phát, bao tim trắng đục, sau đó, bao tim có nhiều fibrin, có thể viêm dính màng tim và cơ tim.
Gan, lách có thể sưng to, gan có thể bị bao phủ bởi một lớp fibrin trắng đục.
Vi khuẩn tấn công vào hệ thần kinh trung ương, gây viêm não.
Bệnh ở giai đoạn cuối, tất cả các cơ quan nội tạng đều được bao phủ bởi lớp fibrin. Ngoài ra, có thể gặp bệnh tích viêm khớp, viêm da có mủ trên gia cầm bệnh.
Gan sưng, bề mặt phủ fibrin
Viêm dính màng tim và cơ tim
4. Chẩn đoán bệnh
Dựa vào triệu chứng, bệnh tích để chẩn đoán bệnh nhưng dễ nhầm lẫn với một số bệnh như E.coli, viêm đường hô hấp, dịch tả vịt.
Có thể chẩn đoán phân biệt một số bệnh ở gia cầm như sau:
|
Đặc điểm |
Bệnh bại huyết |
Bệnh E.coli |
Viêm đường hô hấp |
Dịch tả vịt |
|
Đối tượng mắc bệnh |
Thường ở vịt, ngan, ít xảy ra ở ngỗng, gà tây. Các loài chim nước, gà và gà lôi thỉnh thoảng có thể bị mắc bệnh.
|
Tất cả các loài gia cầm |
Tất cả các loài gia cầm |
Ở thủy cầm: vịt, ngan, ngỗng, các loài chim nước. |
|
Lứa tuổi |
Vịt, ngan con 1 – 7 tuần tuổi dễ mắc bệnh nhất |
Tất cả các lứa tuổi |
Tất cả các lứa tuổi |
Tất cả các lứa tuổi |
|
Tiêu hóa |
Tiêu chảy, phân màu xanh lá cây |
Tiêu chảy, phân màu trắng, xanh, vàng |
Có thể tiêu chảy, phân màu xanh, vàng (ghép) |
Tiêu chảy, phân màu trắng, xanh, vàng |
|
Hô hấp |
Chảy nước mắt, nước mũi, ho nhẹ, hắt hơi |
Có thể khó thở, ngáp (thể viêm túi khí) |
Chảy nước mắt, nước mũi, khó thở, khò khè |
Có thể viêm giác mạc, mắt ướt, chảy nước mũi |
|
Phù đầu, cổ, thần kinh |
Sưng phù đầu, cổ; ngoẹo cổ; mất thăng bằng |
Không |
Sưng phù đầu, viêm xoang mặt (sưng mặt) |
Sưng phù đầu, cổ; ngoẹo cổ |
|
Viêm khớp, đi lại khó |
Viêm khớp, đi lại khó khăn |
Ít có |
Không |
Yếu chân, liệt chân |
|
Triệu chứng khác |
Hay nằm ngửa, hai chân bơi chèo |
|
|
|
|
Tim, gan, túi khí |
Fibrin ở màng bao tim, trên bề mặt gan và viêm túi khí |
Fibrin ở màng bao tim, trên bề mặt gan và viêm túi khí |
Có thể viêm dính màng tim, cơ tim sần sùi, viêm túi khí |
Không |
Để chẩn đoán chính xác bệnh, cần xét nghiệm bệnh phẩm trong phòng thí nghiệm bằng phương pháp PCR.
5. Phòng bệnh
Tăng cường công tác vệ sinh phòng bệnh: Chăn nuôi an toàn sinh học.
Thực hiện tốt 03 nguyên tắc an toàn sinh học, đặc biệt cần đảm bảo cách ly giữa các đàn gia cầm (giữa các đàn, các giống, các lứa tuổi) và với môi trường bên ngoài; vệ sinh môi trường chăn nuôi sạch sẽ, khử trùng định kỳ chuồng nuôi và môi trường xung quanh.
Chăn nuôi gia cầm đúng kỹ thuật để gia cầm khỏe mạnh, hạn chế bệnh xảy ra.
6. Điều trị
Có thể sử dụng kháng sinh, hóa dược như Ceptiofur hoặc Penicillin kết hợp với Streptomycin hoặc Sulfaquinoxaline; bổ sung vitamin; liều lượng, cách dùng theo khuyến cáo của nhà sản xuất.
Khi hết liệu trình điều trị, cần bổ sung men tiêu hóa hoặc chế phẩm vi sinh hữu ích để cải thiện khả năng tiêu hóa, hấp thu dinh dưỡng, giúp vịt, ngan nhanh bình phục.
Kết hợp với việc điều trị bệnh, cần chăm sóc, nuôi dưỡng gia cầm tốt, vệ sinh, khử trùng môi trường để bệnh không tái phát.
Nguyễn Thị Liên Hương
Trung tâm Khuyến nông Quốc gia
(Tài liệu tham khảo: Overview of Riemerella anatipestifer Infection in Poultry/Veterinary Manual và Disease of Poultry/The poulry Site)
- bệnh ở gia cầm li>
- dịch tả ghép bại huyết li>
- bệnh bại huyết li> ul>
- Chăn nuôi bò sữa và tính chuyên biệt hóa trong lao động: Khi người nông dân trở thành “chuyên gia số 1” trên cánh đồng của mình
- Nghiên cứu phân lập và xác định tính mẫn cảm với kháng sinh của vi khuẩn Haemophilus parasuis phân lập được từ lợn nghi mắc bệnh tại một số tỉnh phía Bắc Việt Nam
- Hướng tới Đại hội Đại biểu lần thứ IV nhiệm kỳ 2026-2031 Hội Chăn nuôi thỏ Việt Nam: Đột phá chiến lược Phát triển ngành chăn nuôi thỏ Việt Nam trong giai đoạn mới
- Phát triển xét nghiệm tại chỗ có độ nhạy cao cho bệnh dịch tả lợn châu Phi bằng kết hợp phương pháp tách chiết DNA EZ Fast với kỹ thuật LAMP: Đánh giá trên các mẫu máu toàn phần từ lợn bệnh tự nhiên tại Việt Nam
- Đánh giá độc tính tế bào và khảo sát hoạt tính kháng khuẩn in vitro của kháng sinh nano trên một số chủng vi khuẩn escherichia coli phân lập ở đường hô hấp của gà
- Bức tranh toàn cảnh ngành sữa Việt Nam và sức mạnh của chuỗi thức ăn liên kết
- Giảm chi phí thức ăn chăn nuôi: Khi nào nên thay ngô và đậu nành?
- Tối ưu lợi nhuận chăn nuôi khi giá lợn hơi đang cao
- Một số kết quả nghiên cứu về reovirus biến chủng gây bệnh ở thủy cầm tại một số tỉnh miền Bắc
- Công cụ kỹ thuật số mở đường cho ngành bò sữa phát triển bền vững
Tin mới nhất
CN,16/08/2026
- Phát triển chăn nuôi gắn với truy xuất nguồn gốc và liên kết tiêu thụ sản phẩm: Yêu cầu tất yếu
- Chăn nuôi bò sữa và tính chuyên biệt hóa trong lao động: Khi người nông dân trở thành “chuyên gia số 1” trên cánh đồng của mình
- Lào Cai: Sản lượng thịt hơi xuất chuồng tăng 3,32%
- Chi cục Chăn nuôi và Thú y TP. Hồ Chí Minh: Tăng cường giám sát dịch bệnh và đẩy mạnh tiến độ bao phủ vắc xin phòng bệnh cho vật nuôi
- Hội Chăn nuôi thỏ Việt Nam cụ thể hóa định hướng của Cục Chăn nuôi và Thú y bằng chương trình hành động cụ thể
- ACIAR và Việt Nam tăng cường hợp tác nghiên cứu Nông nghiệp hỗ trợ chuyển đổi xanh, phát triển bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu
- Thử nghiệm cánh tay robot phẫu thuật tự động trên heo trước khi ứng dụng cho người
- Sử dụng dịch ngoáy mũi để phát hiện hội chứng hô hấp phức hợp ở lợn (PRDC) nhiễm bệnh trong tự nhiên
- Hà Nội đặt mục tiêu phủ vắc xin viêm da nổi cục cho 100% đàn trâu, bò
- Chăn nuôi thỏ có nhiều lợi thế trở thành ngành hàng phù hợp với nông nghiệp sạch, xanh và kinh tế tuần hoàn
- Cargill tiếp tục sản xuất thức ăn cá tại nhà máy Biên Hòa và Hưng Yên
- Vượt qua thách thức Gumboro và H9N2 để nâng cao hiệu quả chăn nuôi gia cầm
- Doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi: Chia sẻ khó khăn cùng người chăn nuôi
- Ngành chăn nuôi heo trước thách thức mới trên hành trình phát triển bền vững
- Chuyên gia bàn giải pháp sử dụng kháng sinh có kiểm soát trong chăn nuôi
- Ngành sữa Việt Nam: Cơ hội “bứt phá” từ nội lực
- Dịch tả heo châu Phi: Hiện trạng và giải pháp kiểm soát hiệu quả (Phần 1)
- Bộ NN&MT mở đợt ‘truy quét’ việc lạm dụng chất kích tăng trưởng, tăng trọng
- Cargill rút khỏi ngành thức ăn thủy sản tại Việt Nam, đóng cửa nhà máy tại Đồng Tháp và Long An
- Chăn nuôi dê bền vững theo chuỗi giá trị: Chủ nhà hàng là mắt xích quan trọng

























Bình luận mới nhất