Kinh nghiệm kiểm soát dịch tả lợn châu Phi tại Malaysia - Chăn nuôi Việt Nam
    • Giá heo (lợn) hơi miền Bắc từ 60.000 - 70.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hà Nội 69.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hưng Yên 70.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Trung và Tây Nguyên từ 68.000 - 72.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Quảng Trị 70.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Thanh Hóa 68.000đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Lâm Đồng 72.000đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Nam từ 69.000 - 72.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Đồng Nai 72.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Cà Mau 70.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Đồng Tháp 71.000 đ/kg
    •  
  • Kinh nghiệm kiểm soát dịch tả lợn châu Phi tại Malaysia

    [Chăn nuôi Việt Nam] – Ngày 18/6, trong khuôn khổ Hội nghị Khoa học Quốc tế ngành heo – IPVS 2026, tổ chức tại TP. HCM, diễn giả Shi Ling Soh, Đại học Putra, Malaysia đã có bài trình bày chủ đề: “Kiểm soát Dịch tả lợn châu Phi (ASF) và Chiến lược tái đàn tại Malaysia: Hiệu quả của các quy trình Vệ sinh và Sát khuẩn”, chia sẻ những kết quả nghiên cứu thực tế về hiệu quả của các quy trình vệ sinh và sát khuẩn trong kiểm soát ASF tại các trang trại lợn ở Malaysia. Nghiên cứu cho thấy, việc chuẩn hóa quy trình vệ sinh, sát khuẩn đóng vai trò quan trọng trong giảm nguy cơ tồn lưu mầm bệnh và hỗ trợ tái đàn an toàn.

    Bà Shi Ling Soh, Đại học Putra, Malaysia bài trình bày chủ đề: “Kiểm soát Dịch tả lợn châu Phi (ASF) và Chiến lược tái đàn tại Malaysia: Hiệu quả của các quy trình Vệ sinh và Sát khuẩn” tại IPVS 2026

     

    ASF: Mối đe dọa dai dẳng với ngành chăn nuôi lợn toàn cầu

     

    Virus Dịch tả lợn châu Phi (ASFV) là virus có vỏ bọc, mang vật chất di truyền DNA sợi kép (dsDNA), có đường kính khoảng 260 – 300 nm, với độ dài bộ gen dao động từ 170 – 193 kbp. Virus này thuộc chi Asfivirus, họ Asfarviridae.

     

    Điểm đáng lo ngại của ASF nằm ở khả năng lây lan mạnh và tỷ lệ tử vong có thể lên tới 100% trên đàn heo mẫn cảm. Virus có thể xâm nhập vào trại nuôi thông qua nhiều con đường khác nhau, bao gồm tiếp xúc trực tiếp giữa lợn bệnh và lợn khỏe, lây truyền cơ học qua các vật dụng trung gian như thiết bị chăn nuôi, dụng cụ thú y, phương tiện vận chuyển hoặc thức ăn nhiễm mầm bệnh. Ngoài ra, ASFV còn tồn tại trong chu kỳ hoang dã liên quan đến lợn bướu (warthog) và ve mềm (Ornithodoros spp.), đồng thời có thể lây truyền qua aerosol trong điều kiện chuồng nuôi kín ở khoảng cách ngắn.

     

    Khi mắc bệnh, lợn thường xuất hiện các dấu hiệu lâm sàng điển hình như sốt cao, uể oải, chán ăn, tím tái da và rối loạn tiêu hóa với biểu hiện nôn mửa hoặc tiêu chảy. Kết quả khám nghiệm xác lợn nhiễm bệnh cho thấy nhiều tổn thương đặc trưng, nổi bật là lách sưng to cùng tình trạng xuất huyết trên diện rộng tại da, hạch bạch huyết, thận, bàng quang, thanh quản, tim, phổi, gan cũng như các bề mặt thanh mạc và niêm mạc.

     

    Theo bà Shi Ling Soh, chính mức độ nguy hiểm của bệnh cùng khả năng tồn tại dai dẳng trong môi trường khiến ASF trở thành bài toán khó đối với ngành chăn nuôi lợn tại Malaysia, đặc biệt trong giai đoạn tái đàn sau dịch.

     

    Thách thức kiểm soát ASF trong điều kiện khí hậu nhiệt đới của Malaysia

     

    Theo bà Shi Ling Soh, một trong những khó khăn lớn nhất tại Malaysia là điều kiện khí hậu nhiệt đới với độ ẩm và nhiệt độ cao. Đây là các yếu tố có thể ảnh hưởng đến khả năng tồn tại của virus trong môi trường, cũng như hiệu quả thực tế của các biện pháp vệ sinh và sát khuẩn.

     

    Dù vệ sinh, sát khuẩn được xem là nền tảng của an toàn sinh học, dữ liệu thực địa về hiệu quả của các quy trình này trong loại bỏ ASFV tại trang trại vẫn còn hạn chế. Khoảng trống dữ liệu này khiến việc xây dựng các chương trình tái đàn an toàn gặp nhiều khó khăn.

     

    Xuất phát từ thực tế đó, nghiên cứu được triển khai nhằm đánh giá hiệu quả của các quy trình vệ sinh và sát khuẩn hiện có trong việc bất hoạt ASFV tại các trang trại lợn bị ảnh hưởng ở Malaysia, đồng thời xác định những điểm yếu trong thực hành an toàn sinh học có thể làm gia tăng nguy cơ tái phát dịch.

    Tình hình dịch tả lợn châu Phi được ghi nhận tại Malaysia từ bài trình bày của diễn giả

     

    Khảo sát thực tế tại 6 trang trại lợn

     

    Để đánh giá hiệu quả thực tế của các biện pháp vệ sinh và sát khuẩn, nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát tại 6 trang trại lợn từng ghi nhận dịch ASF.

     

    Quy trình nghiên cứu được triển khai theo nhiều bước. Trước hết, nhóm nghiên cứu sàng lọc và xác định các trang trại đang có hoặc từng có dịch bệnh. Tiếp đó, dữ liệu được thu thập thông qua bảng câu hỏi dành cho chủ trang trại hoặc người quản lý nhằm ghi nhận thực trạng áp dụng các biện pháp an toàn sinh học.

     

    Sau khi các trang trại hoàn tất quy trình vệ sinh và sát khuẩn theo thực tế đang áp dụng, nhóm nghiên cứu tiến hành lấy mẫu quệt môi trường tại các vị trí liên quan trong khu vực chăn nuôi. Các mẫu này sau đó được xét nghiệm bằng phương pháp phản ứng chuỗi polymerase thời gian thực (qPCR) để xác định sự hiện diện của virus ASF. Toàn bộ dữ liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm SPSS nhằm phục vụ phân tích thống kê. Tổng cộng 98 mẫu quệt môi trường đã được thu thập trong nghiên cứu.

     

    Kết quả nghiên cứu cho thấy, các trang trại áp dụng quy trình vệ sinh và sát khuẩn toàn diện có tỷ lệ phát hiện ASFV thấp hơn sau khi hoàn tất quy trình làm sạch.

    Các thực hành Vệ sinh và Sát khuẩn (C&D) trọng yếu tại sáu trang trại lợn 

     

    Những trang trại đạt hiệu quả kiểm soát tốt thường có một số điểm chung. Trước hết là việc sử dụng chất tẩy rửa dạng bọt, giúp tăng khả năng tiếp xúc với bề mặt và nâng cao hiệu quả loại bỏ chất bẩn. Bên cạnh đó, các trang trại này thực hiện đầy đủ bước làm khô trước khi sát khuẩn, hạn chế tình trạng hóa chất bị pha loãng làm giảm hiệu lực.

     

    Việc lựa chọn đúng loại chất sát khuẩn và sử dụng nguồn nước phù hợp, như nước đã qua xử lý hoặc nước ngầm, cũng được ghi nhận là yếu tố góp phần nâng cao hiệu quả kiểm soát mầm bệnh.

     

    Đáng chú ý, các mẫu tại những trang trại áp dụng đầy đủ quy trình thường ghi nhận giá trị Ct cao hơn trong xét nghiệm qPCR. Giá trị Ct cao cho thấy tải lượng virus thấp hơn, phản ánh mức độ ô nhiễm môi trường còn sót lại sau vệ sinh đã giảm.

     

    Những kết quả này cho thấy, hiệu quả của sát khuẩn không chỉ phụ thuộc vào loại hóa chất sử dụng mà còn chịu tác động mạnh bởi chất lượng thực hiện toàn bộ quy trình làm sạch trước đó.

     

    Giảm chất hữu cơ: Bước thường bị xem nhẹ nhưng mang tính quyết định

     

    Một trong những phát hiện quan trọng của nghiên cứu là vai trò đặc biệt của việc loại bỏ chất hữu cơ trước khi sát khuẩn.

     

    Theo dữ liệu được nhóm nghiên cứu dẫn lại, virus ASF có khả năng tồn tại trong phân từ 60–100 ngày. Trong phân lỏng, virus thậm chí có thể sống sót tới 84 ngày ở nhiệt độ 17°C.

     

    Điều này đồng nghĩa với việc nếu phân, chất thải hoặc cặn hữu cơ không được loại bỏ triệt để, chất sát khuẩn sẽ khó phát huy hiệu quả tối đa. Nói cách khác, sát khuẩn mà không làm sạch tốt trước đó có thể khiến virus vẫn tiếp tục tồn lưu trong chuồng trại.

     

    “Một quy trình vệ sinh và sát khuẩn hiệu quả cần được thực hiện đầy đủ qua 5 bước gồm: làm sạch khô để loại bỏ chất hữu cơ, làm sạch ướt, tráng để loại bỏ dư lượng chất tẩy rửa, làm khô nhằm tránh pha loãng chất sát khuẩn và cuối cùng là sát khuẩn”, bà Shi Ling Soh chia sẻ.

     

    Kết luận nghiên cứu cho thấy, các trang trại áp dụng quy trình vệ sinh và sát khuẩn đa bước, bao gồm làm khô đầy đủ, sử dụng chất khử trùng phù hợp và quản lý nguồn nước hiệu quả, đạt kết quả an toàn sinh học tốt hơn.

     

    Những phát hiện này nhấn mạnh, rằng tái đàn an toàn sau dịch ASF không chỉ phụ thuộc vào con giống hay thời điểm thị trường, mà trước hết phải bắt đầu từ một nền tảng an toàn sinh học được thực thi nghiêm ngặt. Trong đó, việc tiêu chuẩn hóa quy trình vệ sinh và sát khuẩn tại trang trại đóng vai trò then chốt nhằm giảm nguy cơ tái phát dịch và hỗ trợ phục hồi sản xuất bền vững, đặc biệt trong điều kiện khí hậu nhiệt đới.

     

    Những kết quả nghiên cứu từ Malaysia mang ý nghĩa tham chiếu quan trọng cho chăn nuôi lợn tại Việt Nam. Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới tương đồng, các bài học này có thể cung cấp thêm cơ sở thực tiễn để hoàn thiện quy trình an toàn sinh học tại Việt Nam, hướng tới mục tiêu tái đàn an toàn và bền vững hơn sau dịch ASF.

     

    Phạm Huệ

    Để lại comment của bạn


    Bình luận mới nhất

  • Le thi chi
  • 0383775034

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Theo UBND xã Minh Châu – Ba Vì – Hà Nội, xác định lợi thế về đất đai, khí hậu nên những năm qua đã đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp là chính, trong đó xã tập trung đến phát triển chăn nuôi bò sinh sản, bò thịt. […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Trong bối cảnh bệnh Dịch tả lợn châu Phi (DTLCP) đã xảy ra tại TP Hồ Chí Minh, thành phố càng nỗ lực thực hiện các biện pháp kiểm soát chăn nuôi, giết mổ và tiêu thụ gắt gao. Hơn nữa, khảo sát một đêm tại thị trường […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Anh Trần Văn Toản, ở khu vực Bình Yên B, phường Long Hòa, quận Bình Thủy, TP. Cần Thơ là người đầu tiên ở Đồng bằng sông Cửu Long mở trang trại nuôi chim công rất thành công mà cho thu nhập hơn 200 triệu đồng/năm.   1/ […]

    • Giống chim này có khả năng thích ứng cao với điều kiện khí hậu ở nước ta, tỷ lệ nuôi sống đạt 94-99%.

    • Để đàn gà sinh trưởng phát triển tốt có tỷ lệ sống cao cần thực hiện tốt kỹ thuật úm gà con

    • Việt Nam cùng với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ… là những nước đã nuôi trồng thành công đông trùng hạ thảo.

    • Gà vảy cá được mệnh danh là “mỹ kê” đã được nhiều đại gia Việt sẵn sàng chi tiền triệu để hữu cặp gà vảy cá đẹp.

    • Cừu chính là loài vật nuôi thích hợp với những điều kiện khắc nghiệt của vùng đất Ninh Thuận.

    • Nghề nuôi chim cút đẻ hiện đang phổ biến ở rất nhiều hộ gia đình tại các địa phương và mang lại hiệu quả kinh tế khá.

    • Tỉnh Phú Thọ với địa hình đa dạng: nhiều gò, đồi thấp, dải đồng bằng thuận lợi cho chăn nuôi, trong đó, có chăn nuôi gà lông màu.