Giai đoạn 7 – 12 tháng tuổi là giai đoạn khủng hoảng dinh dưỡng của bê vì nguồn sữa mẹ bị cắt hoàn toàn, khả năng tận dụng thức ăn thô xanh của bê còn hạn chế do khu hệ vi sinh vật dạ cỏ phát triển chưa hoàn chỉnh.
1. Kỹ thuật chăn nuôi bê sau cai sữa đến 12 tháng tuổi
Giai đoạn 7 – 12 tháng tuổi là giai đoạn khủng hoảng dinh dưỡng của bê vì nguồn sữa mẹ bị cắt hoàn toàn, khả năng tận dụng thức ăn thô xanh của bê còn hạn chế do khu hệ vi sinh vật dạ cỏ phát triển chưa hoàn chỉnh. Vì vậy, trong giai đoạn này cần cung cấp cho bê thức ăn đủ về số lượng và chất lượng nhằm giảm thiểu ảnh hưởng của stress và tạo điều kiện cho bê phát triển tốt trong giai đoạn sau.
Ảnh minh họa
Tiêu chuẩn và khẩu phần ăn
Trong thời kỳ này bê có thể sử dụng được thức ăn thô xanh, nên tốt nhất là chăn thả trên bãi chăn, đồng cỏ. Việc chăn thả như vậy giúp khai thác tối ưu đồng cỏ và giúp bê có điều kiện tốt để vận động và phát triển cơ thể. Khẩu phần cỏ xanh hàng ngày của bê cần đảm bảo đủ 15 kg/con/ngày (lúc đạt 7 tháng tuổi), 20 kg khi 12 tháng tuổi), lượng thức ăn tinh từ 1 – 2 kg/con/ngày.
Với điều kiện nuôi dưỡng như vậy nếu thấy bê không tăng trọng hoặc tăng trọng chậm, lông xù xì cần tiến hành kiểm tra phân để tìm trứng giun sán. Trường hợp có giun sán, tiến hành tẩy. Nếu không có giun sán thì tăng thêm 0,5 – 1 kg rỉ mật hoặc bột sắn. Trong điều kiện chăm sóc và nuôi dưỡng tốt bê 15 – 20 tháng tuổi có thể đạt 65 – 70% khối lượng cơ thể gia súc trưởng thành.
Chăm sóc và quản lý
Phân đàn: dựa vào độ tuổi, thể trọng, tình hình sức khỏe và tính biệt (phải nuôi tách riêng bê đực và bê cái).
Vận động: Nếu bê nuôi nhốt thì hàng ngày phải cho vận động trong thời gian 4 – 6 giờ. Trong thời gian này kết hợp cho bê ăn cỏ khô và các thức ăn khô khác ngay trên bãi vận động.
Huấn luyện: bê đực làm giống tập cho nhảy giá và phối giống.
2. Kỹ thuật chăn nuôi bò hậu bị từ 13 – 24 tháng tuổi
Sau khi cai sữa, chọn những con đực, con cái tốt nhất để làm giống gọi là giai đoạn nuôi hậu bị. Giai đoạn này kéo dài từ lúc đạt 13 tháng tuổi cho đến phối giống có chửa đối với bê cái hoặc bắt đầu đưa vào sử dụng đối với bê đực (lúc đạt 18 – 24 tháng tuổi).
Tiêu chuẩn và khẩu phần ăn
Trong giai đoạn nuôi hậu bị nên chăn thả và cho chúng ăn tự do thức ăn thô xanh chất lượng tốt, có bổ sung thêm các chất dinh dưỡng như đạm, khoáng, vitamin… Mặt khác, cũng cần lựa chọn các loại thức ăn có giá trị năng lượng cao đưa vào khẩu phần (ngô, cám 1…), giảm thiểu các loại thức ăn thô xanh kém chất lượng để giữ dạng hình bụng đực giống thon gọn.
Khẩu phần thức ăn hàng ngày của bò trong giai đoạn nuôi hậu bị:
|
Tháng tuổi |
Đvt |
Cỏ tươi |
Thức ăn tinh hỗn hợp |
Ghi chú |
|
13 – 18 |
Kg/con/ngày |
20 – 25 |
1,5 |
Lượng thức ăn tinh cho ăn 2 lần/ngày |
|
19 – 24 |
Kg/con/ngày |
30 – 35 |
2,0 |
Chăm sóc và quản lý
Giai đoạn này cần nuôi tách riêng bò đực và bò cái.
Cần chú ý đảm bảo số lượng và chất lượng thức ăn để chúng không bị còi cọc, bệnh tật, ảnh hưởng đến tuổi thành thục sinh dục và khả năng sinh sản của chúng sau này…
Các biện pháp vệ sinh, phòng bệnh: thức ăn, nước uống luôn sạch sẽ; định kỳ tiêm phòng vắc-xin và tẩy uế chuồng trại.
Trường hợp nuôi nhốt tại chuồng, bắt buộc phải cho chúng vận động ngoài trời, mỗi ngày ít nhất hai lần, mỗi lần 2 – 3 giờ, đặc biệt là đối với đực giống hậu bị.
TS.Nguyễn Thị Hải
Trung tâm Khuyến nông Quốc gia
- chăn nuôi bò li>
- kỹ thuật chăm sóc bê li> ul>
- Gia cầm Việt Nam trước ngưỡng 2027: Không thể mãi cạnh tranh bằng “giá rẻ”
- Thúc đẩy chăn nuôi heo bền vững thông qua công nghệ chọn giống và cải tiến di truyền
- Hoa Kỳ: Kiểm soát an toàn TĂCN nuôi theo mô hình 7 lớp phòng ngừa
- Tỷ lệ Arginine/Lysine cần thiết để cải thiện thành tích tăng trưởng của vịt thịt lông trắng
- Khai phá tiềm năng: Tryptophan – Giải pháp toàn diện cho năng suất gà đẻ và phúc lợi gà giống
- Nhu cầu Lysine của gà thịt tăng trưởng chậm giai đoạn từ 43 đến 84 ngày tuổi
- Ånh hưởng của chế phẩm Bio-Lacto đến khả năng sinh trưởng và hiệu quả kinh tế của gà H’mông
- Khả năng sinh sản và phúc lợi động vật của gà Lương Phượng đẻ trứng giống nuôi lồng
- Những thách thức trong chăn nuôi ảnh hưởng đến chất lượng thịt gà
- Phân loại vắc xin thú y nhược độc vào nhóm hàng hóa rủi ro cao: Cần tiếp cận dựa trên cơ sở khoa học và nguyên tắc rủi ro
Tin mới nhất
T3,06/10/2026
- Đưa hoạt động giết mổ vào nề nếp: Siết chặt quản lý từ gốc
- Bản tin thị trường thịt trong nước và thế giới tháng 9.2026
- Tình hình chăn nuôi tháng 9.2026
- HANVET 38 năm: Vững bước – Tiên phong – Vươn xa
- Kiểm soát Salmonella: Hướng đi chủ động nâng cao an toàn thực phẩm trong chăn nuôi gia cầm
- TS. Nguyễn Xuân Dương được tôn vinh “Nhà Khoa học của Nhà nông” năm 2026
- PGS.TS Phạm Doãn Lân được bổ nhiệm Viện trưởng Viện Chăn nuôi và Thú y Việt Nam
- Giá heo hơi ngày 2/10: Mặt bằng giảm sâu, thấp nhất 55.000 đồng/kg
- Giá heo hơi ngày 1/10: Cả nước chững giá sau đợt giảm sâu
- Sơn La: Đàn lợn tự do giữa rừng Bản Bướt
- Ngành gia cầm Malaysia: Hướng tới tăng năng lực sản xuất và ứng dụng công nghệ
- Vaxxitek® – 20 năm đồng hành cùng ngành gia cầm toàn cầu
- Cargill tiếp tục sản xuất thức ăn cá tại nhà máy Biên Hòa và Hưng Yên
- Vượt qua thách thức Gumboro và H9N2 để nâng cao hiệu quả chăn nuôi gia cầm
- Doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi: Chia sẻ khó khăn cùng người chăn nuôi
- Ngành chăn nuôi heo trước thách thức mới trên hành trình phát triển bền vững
- Chuyên gia bàn giải pháp sử dụng kháng sinh có kiểm soát trong chăn nuôi
- Ngành sữa Việt Nam: Cơ hội “bứt phá” từ nội lực
- Dịch tả heo châu Phi: Hiện trạng và giải pháp kiểm soát hiệu quả (Phần 1)
- Bộ NN&MT mở đợt ‘truy quét’ việc lạm dụng chất kích tăng trưởng, tăng trọng






















Bình luận mới nhất