Nghề nuôi chim cút đẻ hiện đang phổ biến ở rất nhiều hộ gia đình tại nhiều địa phương. Tuy vậy không phải ai cũng nắm được đầy đủ các kỹ thuật khi nuôi chim cút đẻ trứng.

Để đạt năng suất cao, trong giai đoạn chim cút đẻ trứng, cần cung cấp cho chim đầy đủ và cân bằng các chất dinh dưỡng. Ngoài protein, năng lượng trao đổi, lisine, methionin… còn cần chú ý đến canxi, phospho, vì 2 nguyên tố này có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng vỏ trứng và bộ xương của cơ thể. Nồng độ canxi cho chim đẻ trứng phải đạt 2,5-3,5 %, phospho dễ tiêu là 0,5-0,6%.
Cần phải lưu ý rằng, các nhu cầu dinh dưỡng mà bài viết đưa ra là những hướng dẫn và để tham khảo, cần được thay đổi để phù hợp với điều kiện cụ thể của mỗi cơ sở sản xuất, giống chim, mùa vụ, tiểu khí hậu chuồng nuôi và năng suất đàn chim…. Các cán bộ kỹ thuật phải dựa vào kiến thức về dinh dưỡng gia cầm để vận dụng một cách linh hoạt và hiệu quả nhất.
Khi chuyển thức ăn của chim hậu bị sang thức ăn của chim đẻ cần phải chuyển từ từ, cũng như chuyển từ thức ăn cho chim con sang chim hậu bị.
Kỹ thuật cho ăn
Số lượng thức ăn cung cấp cho chim mái đẻ hàng ngày phụ thuộc vào tỷ lệ đẻ. Cần căn cứ vào tỷ lệ đẻ mà cho ăn phù hợp. Chim mái đẻ trứng theo quy luật, bắt đầu đẻ vào tuần tuổi thứ 11, đến tuần tuổi thứ 15-16, chim đẻ rất nhiều, 95-98 %, duy trì khoảng 7-8 tuần rồi dần dần giảm xuống.

– Từ khi đẻ bói cho đến khi tỷ lệ đẻ đạt đỉnh cao
Khi đàn chim vào đẻ, tỷ lệ đẻ có thể tăng rất nhanh hoặc rất chậm tuỳ thuộc vào độ đồng đều của đàn chim và các điều kiện khác (nhiệt độ, độ ẩm môi trường, chế độ chiếu sáng, kỹ thuật nuôi trong giai đoạn hậu bị v. v..). Có nhiều biện pháp khác nhau để tăng lượng thức ăn trong giai đoạn này.
+ Cách thứ nhất là dựa vào mức tăng tỷ lệ đẻ
Nếu tỷ lệ đẻ hàng ngày tăng trên 3 %, nên cho chim ăn lượng thức ăn cao nhất khi tỷ lệ đẻ đạt 35%;
Nếu tỷ lệ đẻ tăng từ 2-3 %, cho chim ăn lượng thức ăn cao nhất vào lúc tỷ lệ đẻ đạt 45%;
Nếu tỷ lệ đẻ tăng từ 1- 2 %, cho chim ăn lượng thức ăn cao nhất khi tỷ lệ đẻ đạt 55% ; Nếu tỷ lệ đẻ tăng dưới 1 %, cho chim ăn lượng thức ăn cao nhất khi tỷ lệ đẻ đạt 65- 75%.
+ Cách thứ hai là dựa vào độ đồng đều của đàn chim ở 9 tuần tuổi.
Độ đồng đều của đàn chim được xác định bằng công thức: Độ đồng đều =(n/N)100
Trong đó, n là số chim có khối lượng nằm trong khoảng khối lượng trung bình của đàn ± 10%; N tổng đàn chim
Nếu hệ số biến dị (Cv%) của đàn chim <8%, sau khi tỷ lệ đẻ đạt 5%, tăng lượng thức ăn thêm 15 – 20%; sau khi tỷ lệ đẻ đạt 20%, tăng tiếp 5%; sau khi tỷ lệ đẻ đạt 30% tăng tiếp 5% và sau khi tỷ lệ đẻ đạt 50% sẽ cho ăn lượng thức ăn tối đa.
Nếu Cv% = 9 -12%, sau khi tỷ lệ đẻ đạt 10% tăng lượng thức ăn thêm 15-20%; sau khi tỷ lệ đẻ đạt 20%, tăng tiếp 5%; sau khi tỷ lệ đẻ đạt 30%, tăng tiếp 5% và sau khi tỷ lệ đẻ đạt 50% sẽ cho ăn lượng thức ăn tối đa.
Nếu Cv% >12%, sau khi tỷ lệ đẻ đạt 15% tăng lượng thức ăn thêm 15-20%; Sau khi tỷ lệ đẻ đạt 25% tăng tiếp 5%; sau khi tỷ lệ đẻ đạt 35% tăng tiếp 5% và sau khi tỷ lệ đẻ đạt 50% sẽ cho ăn lượng thức ăn tối đa.
Cần hạn chế bắt chim cút, vì chúng rất nhút nhát và hoảng loạn, bị stress nặng khi bắt chim.

– Sau khi đàn chim đạt đỉnh cao tỷ lệ đẻ
Khi tỷ lệ đẻ của đàn chim tăng đến một độ cao nhất định, dừng ở đó một số ngày (khoảng 7 – 10 ngày) mà không tăng thêm hoặc giảm đi nữa, như vậy tỷ lệ đẻ của đàn chim đã đạt đỉnh cao. Lúc này nếu không giảm lượng thức ăn hàng ngày thì đàn chim sẽ thừa năng lượng, tích luỹ mỡ và quá béo, tỷ lệ đẻ sẽ giảm nhanh, trứng bé.
Tuỳ điều kiện thực tế như thời tiết, khí hậu, khối lượng trứng, mức giảm tỷ lệ đẻ, sức khoẻ của đàn chim và những yếu tố stress… mà giảm lượng thức ăn hàng ngày của mỗi chim mái đẻ từ 0,5-1 g, nhưng chỉ được giảm 10% mà thôi và phải giảm từ từ. Ví dụ, khi chim ăn nhiều nhất (lúc đẻ 98-99%) là 28 g/con/ngày, thì chỉ được giảm nhiều nhất là 10% x 28 g = 2,8 g, tức là sẽ cho ăn tối thiểu là 28-2,8 = 25,2 g/con/ngày.
Cần bổ sung thêm sỏi cho chim đẻ, đường kính sỏi 1-2mm. Mỗi lồng chim nên đặt 1 máng sỏi ở phía ngoài cho chim ăn tự do.
Trong quá trình cho ăn, cần lưu ý điều kiện khí hậu để điều chỉnh mức năng lượng của khẩu phần cho thích hợp, quan trọng nhất là nhiệt độ chuồng nuôi. Khi nhiệt độ chuồng nuôi cao hơn 20 độ C, nếu tăng 1 độC thì giảm khoảng 0,4 kcal năng lượng cho một chim, giảm 1 độ C phải tăng thêm 0,6 kcal.
Thời gian khai thác chim mái: có thể cho chim mái đẻ đến 60 tuần, sau đó tỷ lệ đẻ giảm. Thời gian kết thúc sớm hoặc muộn hơn tuỳ thuộc vào tỷ lệ đẻ và giá trứng trên thị trường.
Máng ăn
Dùng máng ăn dài gần bằng chiều ngang lồng chim, mỗi máng ăn dùng cho 25-30 chim.
Nước uống
Đối với chim mái đẻ, ngoài các yếu tố ảnh hưởng chung, nhu cầu về nước phụ thuộc vào tỷ lệ đẻ trứng. Khi tỷ lệ đẻ càng cao thì lượng nước uống cũng càng cao, có thể đến 40-70 g nước/con/ngày. Biết được nhu cầu này để cung cấp đủ nước sạch cho chim là một việc làm quan trọng.
Nguồn: Trung tâm Khuyến nông Quốc gia
- chất cấm li>
- chăn nuôi hiệu quả li>
- chăn nuôi li>
- mô hình chăn nuôi hiệu quả li>
- kháng sinh li>
- mô hình chăn nuôi khép kín li>
- người chăn nuôi li>
- thức ăn chăn nuôi li>
- salbutamo li>
- cách chăn nuôi li>
- thực phẩm sạch li>
- dịch bệnh trong chăn nuôi li>
- nhà chăn nuôi li>
- nuôi trăn li>
- phương pháp chăn nuôi li>
- chăn nuôi làm giàu li>
- chăn nuôi gia cầm li>
- chăn nuôi gia súc li> ul>
15 Comments
Để lại comment của bạn
- Chăn nuôi bò sữa và tính chuyên biệt hóa trong lao động: Khi người nông dân trở thành “chuyên gia số 1” trên cánh đồng của mình
- Nghiên cứu phân lập và xác định tính mẫn cảm với kháng sinh của vi khuẩn Haemophilus parasuis phân lập được từ lợn nghi mắc bệnh tại một số tỉnh phía Bắc Việt Nam
- Hướng tới Đại hội Đại biểu lần thứ IV nhiệm kỳ 2026-2031 Hội Chăn nuôi thỏ Việt Nam: Đột phá chiến lược Phát triển ngành chăn nuôi thỏ Việt Nam trong giai đoạn mới
- Phát triển xét nghiệm tại chỗ có độ nhạy cao cho bệnh dịch tả lợn châu Phi bằng kết hợp phương pháp tách chiết DNA EZ Fast với kỹ thuật LAMP: Đánh giá trên các mẫu máu toàn phần từ lợn bệnh tự nhiên tại Việt Nam
- Đánh giá độc tính tế bào và khảo sát hoạt tính kháng khuẩn in vitro của kháng sinh nano trên một số chủng vi khuẩn escherichia coli phân lập ở đường hô hấp của gà
- Bức tranh toàn cảnh ngành sữa Việt Nam và sức mạnh của chuỗi thức ăn liên kết
- Giảm chi phí thức ăn chăn nuôi: Khi nào nên thay ngô và đậu nành?
- Tối ưu lợi nhuận chăn nuôi khi giá lợn hơi đang cao
- Một số kết quả nghiên cứu về reovirus biến chủng gây bệnh ở thủy cầm tại một số tỉnh miền Bắc
- Công cụ kỹ thuật số mở đường cho ngành bò sữa phát triển bền vững
Tin mới nhất
T3,18/08/2026
- HPA dự báo giá heo năm 2027, cảnh báo nguy cơ dư cung khi tăng đàn mạnh
- Giá heo hơi hôm nay 17/8: Đà giảm tạm chững, thị trường vẫn ở vùng thấp
- Một số vấn đề trong phát triển chăn nuôi thỏ ở Việt Nam
- Hà Nội phê duyệt 65 quy trình thủ tục hành chính lĩnh vực chăn nuôi, thú y và thủy sản
- Phát triển chăn nuôi gắn với truy xuất nguồn gốc và liên kết tiêu thụ sản phẩm: Yêu cầu tất yếu
- Chăn nuôi bò sữa và tính chuyên biệt hóa trong lao động: Khi người nông dân trở thành “chuyên gia số 1” trên cánh đồng của mình
- Lào Cai: Sản lượng thịt hơi xuất chuồng tăng 3,32%
- Chi cục Chăn nuôi và Thú y TP. Hồ Chí Minh: Tăng cường giám sát dịch bệnh và đẩy mạnh tiến độ bao phủ vắc xin phòng bệnh cho vật nuôi
- Hội Chăn nuôi thỏ Việt Nam cụ thể hóa định hướng của Cục Chăn nuôi và Thú y bằng chương trình hành động cụ thể
- ACIAR và Việt Nam tăng cường hợp tác nghiên cứu Nông nghiệp hỗ trợ chuyển đổi xanh, phát triển bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu
- Cargill tiếp tục sản xuất thức ăn cá tại nhà máy Biên Hòa và Hưng Yên
- Vượt qua thách thức Gumboro và H9N2 để nâng cao hiệu quả chăn nuôi gia cầm
- Doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi: Chia sẻ khó khăn cùng người chăn nuôi
- Ngành chăn nuôi heo trước thách thức mới trên hành trình phát triển bền vững
- Chuyên gia bàn giải pháp sử dụng kháng sinh có kiểm soát trong chăn nuôi
- Ngành sữa Việt Nam: Cơ hội “bứt phá” từ nội lực
- Dịch tả heo châu Phi: Hiện trạng và giải pháp kiểm soát hiệu quả (Phần 1)
- Bộ NN&MT mở đợt ‘truy quét’ việc lạm dụng chất kích tăng trưởng, tăng trọng
- Cargill rút khỏi ngành thức ăn thủy sản tại Việt Nam, đóng cửa nhà máy tại Đồng Tháp và Long An
- Chăn nuôi dê bền vững theo chuỗi giá trị: Chủ nhà hàng là mắt xích quan trọng






















Cút đẻ phải cung cấp đủ thức ăn ….đặc biệt ko dc cho cút bị dựt mình nhiều quá sẽ ảnh hưởng là bị rụng buồng trứng cút sẽ ko đẻ nữa…
Mình làm bên cty thức ăn chăn nuôi nên cũng tiếp xúc với rất nhiều hộ nuôi cút lâu năm và qui mô rất lớn đến cả 10 vạn thì thấy bài viết có rất nhiều chỗ sai.. VD như cút từ 1 ngày tuổi đến 45 ngày tuổi đã bắt đầu đẻ, đến ngày thứ 60 là đẻ cao nhất, và lượng thức ăn phụ thuộc lớn nhất vào thời tiết + nhiệt độ…
Mình nuôi 20 con chim cút mái cho ăn cám cò C 51 đến 3 tháng tuổi nhưng chỉ thấy có 1 con đẻ còn lại 19 con nữa không thấy đẻ, tạo sao như thế?
Cho em hỏi,cút trên 45 ngày sao bị rụng trứng già, chỉ có trứng non?
Cho e hỏi,cút tren 45 ngày sao bị rụng trứng già, chỉ có trứng non,thịt dai