[Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Ngành chăn nuôi cần gia cầm phát huy phát huy lợi thế về khả năng sản xuất một số loại gia cầm nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, khả năng cạnh tranh và giá trị gia tăng; phát triển bề vững góp phần đảm bảo an sinh xã hội và bảo vệ môi trường.
Tái cơ cấu sản xuất ngành chăn nuôi theo vùng
Chăn nuôi gà: trước mắt duy trì cơ cấu đàn tại vùng Đồng bằng sông Hồng, Trung du và miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long; sau đó mở rộng vùng Tây Nguyên (tăng từ 7% lên 20%).
Chăn nuôi vịt: Trước mắt, duy trì ở vùng Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng sông Cửu Long,, sau đó mở rộng sang vùng Trung du miền núi phía Bắc lên 15% và Duyên hải miền Trung lên 31% năm 2020.
Tái cơ cấu vật nuôi
Phát triển đàn gà lông màu, thả vườn, sản lượng thịt gà lông màu lên 60% năm 2020. Duy trì ổn định đàn gà công nghiệp lông trắng.
Tăng đàn vịt đẻ trứng, vịt nuôi thịt: Tổng đàn thủy cầm đạt 100 triệu con năm 2020, trong đó vịt đẻ trứng lên 40 triệu con; sản lượng thịt chiếm 30% tỷ trọng thịt gia cầm.
Tái cơ cấu về phương thức sản xuất chăn nuôi
Chuyển dần từ chăn nuôi nông hộ sang chăn nuôi trang trại. Xác định quy mô trang trại phù hợp với từng loại vật nuôi, từng vùng, địa phương.
Phát triển chăn nuôi theo hướng chăn nuôi công nghiệp, chăn thả có kiểm soát, áp dụng tiến bộ kỹ thuật, an toàn sinh học, giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
Đến năm 2020, cơ cấu vật nuôi và sản phẩm chăn nuôi đối với trang trại chăn nuôi gà về số lượng đầu con tăng từ 30 lên 60%, sản lượng thịt trứng từ 45 lên 75%, chăn nuôi vịt về số lượng đầu con tăng từ 20% lên 60%, sản lượng thịt tăng từ 25% lên 50%, trứng tăng từ 25% lên 45%.
Tái cơ cấu theo chuỗi giá trị, ngành hàng
Tổ chức liên kết theo chuỗi sản phẩm từ khâu sản xuất đến thị trường, trong đó các doanh nghiệp đóng vai trò làm trung tâm để liên kết với các tổ chức sản xuất như liên kết Tổ hợp tác, HTX, Hội, Hiệp hội ngành hàng, cần xây dựng các thương hiệu, chỉ dẫn địa lý.
Định hướng các giống chủ lực
Để nâng cao hiệu quả chăn nuôi và phát triển chăn nuôi gia cầm bền vững gắn với sự khai thác hợp lý các lợi thế vùng về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, cần đạt mục tiêu phát triển chăn nuôi gia cầm như sau:
Về giống gà
Gà hướng thịt
– Chọn lọc, nhập khẩu những giống gà, dòng gà có năng suất, chất lượng cao nhất hiện nay để làm giảm chi phí về giống. Phấn đấu chi phí về TĂCN dưới 1,8kg/kg tăng khối lượng.
– Gà trắng: Tập trung cho các năm tới là giống Ross, AA, Hubard, Cobb.
+ Chỉ tiêu giống TBKT cần đạt: Thời gian nuôi 35-42 ngày; khối lượng cơ thể đạt 1,8-2,6 kg/con; tiêu tốn thức ăn từ ≤1,8kg TA/kg tăng khối lượng.
+ Nguồn giống: chủ yếu nhập ngoại.
– Gà màu: Tập trung các giống ISA Colour, Redbro và Lương Phượng.
+ Chỉ tiêu giống TBKT cần đạt: Thời gian nuôi 56-70 ngày; khối lượng cơ thể đạt 1,8-2,6 kg/con; tiêu tốn thức ăn từ 2,2-2,6 kg TA/kg tăng khối lượng.
+ Nguồn giống: Chủ động sản xuất trong nước 80% đối với giống Lương Phượng và con lai còn lại chủ yếu nhập ngoại.
Gà hướng trứng
– Nuôi công nghiệp: Tập trung các giống ISA Brow, Hyline, Novogen
+ Chỉ tiêu giống TBKT cần đạt: năng suất trứng ≥ 280 quả/72 tuần tuổi ; tiêu tốn thức ăn /10 quả trứng ≤ 1,2kg;
+ Nguồn giống: chủ yếu nhập ngoại.
– Nuôi thả vườn; bán công nghiệp: Tập trung các giống Ai Cập và các tổ hợp lai.
+ Chỉ tiêu giống TBKT cần đạt: năng suất trứng ≥ 185 quả/72 tuần tuổi; tiêu tốn thức ăn /10 quả trứng ≤ 2kg;
+ Nguồn giống: tự túc 100% giống trong nước.
Gà nội
– Lập hồ sơ quản lý các giống gà nội có tiềm năng. Các địa phương xây dựng chính sách cụ thể giữ nguồn gen bản địa.
– Tập trung phát triển các giống gà nội: Ri, Mía, Chọi (Đá; Nòi), Ninh Hòa, Tiên Yên, Đông Tảo, Móng và một số giống địa phương có lợi thế vùng.
– Nghiên cứu để tìm cặp lai có ưu thế đem lại hiệu quả kinh tế cao cho từng vùng miền.
– Duy trì và phát triển nguồn gen bản địa nhằm mục đích tạo các tổ hợp lai với một số giống nhập ngoại nâng cao chất lượng thịt đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng trong nước.
– Xây dựng kế hoạch cụ thể về giữ gen giống gà hiện có ở các địa phương.
Về giống vịt
Vịt chuyên thịt
– Tập trung phát triển bộ giống vịt SM, Grimaud, ST5.
– Chỉ tiêu năng suất cần đạt: Thời gian nuôi từ 49-56 ngày; khối lượng đạt ≥ 3,4 kg/con; tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng ≤ 2,7 kg.
– Nguồn giống: Tiếp tục chọn lọc và nhân thuần từ các dòng đã có kết hợp nhập ngoại làm tươi máu và lai tạo. Tự túc 100% giống bố mẹ trong nước.
Vịt chuyên trứng
– Tập trung giống Triết Giang, TC, TsN và vịt Cỏ
– Chỉ tiêu năng suất cần đạt: Năng suất trứng đạt ≥ 270 quả/mái/52 tuần đẻ; tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng ≤ 2,1kg.
– Nguồn giống: Chọn lọc và nhân giống từ các dòng đã có. Tự túc 100% giống bố mẹ trong nước.
Vịt kiêm dụng
– Tập trung giống vịt Biển, vịt PT, vịt Hòa Lan.
– Chỉ tiêu năng suất cần đạt: Năng suất trứng đạt ≥ 220 quả/mái/52 tuần đẻ; vịt nuôi thịt 10 tuần tuổi đạt ≥2,5kg.
– Nguồn giống: Chọn lọc và nhân giống từ các dòng đã có. Tự túc 100% giống bố mẹ trong nước.
Về số lượng đàn vật nuôi
Tăng trưởng về số lượng đàn gia cầm hợp lý từ 3-4%/năm. Đảm bảo tổng đàn gia cầm tăng lên 440 triệu con vào năm 2020. Trong đó: đàn gà tăng 4-5%/năm; đàn thủy cầm tăng 3-5%/năm.
Về sản phẩm chăn nuôi
– Tăng sản lượng thịt gia cầm từ 8-10%/năm. Đưa tỷ trọng thịt gia cầm từ 17,4% lên 20% vào năm 2020; tổng sản lượng thịt gia cầm đạt trên 1,2 triệu tấn.
– Tăng sản lượng trứng gia cầm sản xuất từ 10-12%/năm. Sản lượng trứng sản xuất tăng lên 12-13 tỷ quả vào năm 2020.
Về phương thức chăn nuôi
Quan điểm chung là tạo ra bước đột phá về phương thức chăn nuôi, theo đó tăng tỷ trọng sản xuất chăn nuôi trang trại quy mô vừa và lớn, tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hóa lớn. Chăn nuôi nhỏ lẻ từng bước tổ chức lại theo hướng có kiểm soát bảo đảm an toàn sinh học và giảm dần tỷ trọng. Dự kiến số lượng đầu con vật nuôi và khối lượng sản phẩm sản xuất theo phương thức trang trại tăng lên đến năm 2020 đối với vịt: tăng tỷ lệ đầu con từ 20% lên 50%, sản lượng thịt và trứng tăng từ 25% lên 55% so với tổng thể các loại vật nuôi.
Về liên kết sản xuất
– Xây dựng các cơ sở nuôi gia cầm giống bố mẹ hoặc ông bà và các cơ sở ấp trứng gia cầm tại các huyện, liên huyện hoặc tại các xã, liên xã theo đúng hệ thống giống 4 cấp.
– Lựa chọn từ 2 đến 3 giống gia cầm phù hợp với điều kiện tự nhiên và tập quán tiêu thụ tại các tỉnh thành.
– Hình thành các mô hình liên kết chăn nuôi để tăng cường áp dụng các tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất, nâng cao hiệu quả chăn nuôi. Thành lập các tổ hợp tác, HTX, chi hội, hiệp hội…. để phát triển chăn nuôi gia cầm theo chuỗi bền vững.
Cục Chăn nuôi
- chăn nuôi gia cầm li> ul>
- Khai mạc Hội nghị khoa học thú y thú nhỏ tại Hà Nội: Kết nối lý thuyết với thực hành, hướng tới chuẩn hóa chuyên môn
- Khai mạc InterPetFest Hà Nội 2026: Lễ hội thú cưng quy mô quốc tế lần đầu tiên có mặt tại Thủ đô
- Quảng Trị: Ngành chăn nuôi đặt mục tiêu tăng trưởng trên 4% trong năm 2026
- Chuyển đổi số trong chăn nuôi: Từ chuồng trại truyền thống đến hệ sinh thái thông minh
- Nhập khẩu thức ăn gia súc 3 tháng đầu năm 2026 trị giá trên 1 tỷ USD
- Siba Group bắt tay cùng Tập đoàn Phenikaa phát triển robot chăn nuôi
- Hội nghị Thú y Thú nhỏ Việt Nam 2026: Cập nhật chuyên sâu phẫu thuật và kiểm soát dấu hiệu sinh tồn
- BAF liên doanh với Muyuan vận hành trang trại công nghệ cao đầu tiên tại Tây Ninh
- Nguy cơ thuốc thú y và thức ăn bổ sung thuộc phân loại hàng hóa rủi ro cao
- Kiểm tra công tác tiêm phòng dại chó, mèo tại xã Thư Lâm
Tin mới nhất
CN,19/04/2026
- Khai mạc Hội nghị khoa học thú y thú nhỏ tại Hà Nội: Kết nối lý thuyết với thực hành, hướng tới chuẩn hóa chuyên môn
- Khai mạc InterPetFest Hà Nội 2026: Lễ hội thú cưng quy mô quốc tế lần đầu tiên có mặt tại Thủ đô
- Quảng Trị: Ngành chăn nuôi đặt mục tiêu tăng trưởng trên 4% trong năm 2026
- Chuyển đổi số trong chăn nuôi: Từ chuồng trại truyền thống đến hệ sinh thái thông minh
- Nhập khẩu thức ăn gia súc 3 tháng đầu năm 2026 trị giá trên 1 tỷ USD
- Siba Group bắt tay cùng Tập đoàn Phenikaa phát triển robot chăn nuôi
- Bộ tứ thuốc tiêm SANDO hiệu quả điều trị tối ưu cho trại heo
- Hội nghị Thú y Thú nhỏ Việt Nam 2026: Cập nhật chuyên sâu phẫu thuật và kiểm soát dấu hiệu sinh tồn
- BAF liên doanh với Muyuan vận hành trang trại công nghệ cao đầu tiên tại Tây Ninh
- Vai trò của nucleotide trong dinh dưỡng chức năng – Cải thiện tăng trưởng và khả năng chống chịu dịch bệnh cho vật nuôi với nucleotide tinh khiết
- AChaupharm: Nấm phổi gia cầm, hiểm họa thầm lặng khi giao mùa
- Chuyên gia bàn giải pháp sử dụng kháng sinh có kiểm soát trong chăn nuôi
- Ngành sữa Việt Nam: Cơ hội “bứt phá” từ nội lực
- Dịch tả heo châu Phi: Hiện trạng và giải pháp kiểm soát hiệu quả (Phần 1)
- Bộ NN&MT mở đợt ‘truy quét’ việc lạm dụng chất kích tăng trưởng, tăng trọng
- Cargill rút khỏi ngành thức ăn thủy sản tại Việt Nam, đóng cửa nhà máy tại Đồng Tháp và Long An
- Chăn nuôi dê bền vững theo chuỗi giá trị: Chủ nhà hàng là mắt xích quan trọng
- Da khỏe, lông đẹp: Chiến lược dinh dưỡng hiệu quả cho heo con sau cai sữa
- Lo ngại bệnh than, Campuchia ngừng nhập một số sản phẩm từ Thái Lan
- Cạn tiền, một công ty tại Nam Phi phải tiêu hủy hơn 350.000 con gà

























Bình luận mới nhất