Việc phòng bệnh bằng vắc-xin, thuốc thú y có vai trò rất quan trọng trong chăn nuôi gia súc, gia cầm nói chung và chăn nuôi dê nói riêng. Người chăn nuôi cần thực hiện tiêm phòng nghiêm ngặt một số bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho đàn dê. Các bệnh cần phòng là:
* Phòng bệnh đậu
– Vắc- xin đậu dê: Vắc- xin vô hoạt dạng lỏng, màu hồng nhạt, có chất bổ trợ là keo phèn.
– Đường dùng thuốc: Vắc- xin dùng để tiêm phòng cho dê từ 1 tháng tuổi trở lên theo đường tiêm dưới da hoặc tiêm bắp.
– Liều lượng sử dụng: 1 ml/con, tiêm dưới da hoặc tiêm bắp, tiêm 2 lần/năm.
– Những chú ý khi sử dụng: Chỉ tiêm cho dê từ 1 tháng tuổi trở lên; Sát trùng bơm, kim tiêm thật kĩ trước khi tiêm;
Lắc đều lọ vắc- xin trước khi sử dụng; Không tiêm vắc- xin trong vòng 21 ngày trước khi giết mổ dê.

* Phòng bệnh viêm ruột hoại tử
– Tiêm giải độc tố phòng bệnh viêm ruột hoại tử cho dê.
– Liều tiêm: 2 ml/con, tiêm dưới da cổ, mỗi năm tiêm 2 lần vào tháng 3 và tháng 9.
– Sau 2 tuần có miễn dịch.
* Phòng bệnh tụ huyết trùng
– Vắc- xin tụ huyết trùng dê là vắc- xin vô hoạt, dạng lỏng, màu vàng nhạt.
– Liều tiêm: 2 ml/con cho dê từ 1 tháng tuổi trở lên, tiêm dưới da hoặc tiêm bắp thịt.
– Tiêm vắc- xin định kì 2 lần/năm để phòng bệnh cho đàn dê.
– Chú ý: Lắc kĩ lọ vắc- xin trước khi sử dụng và chỉ sử dụng trong ngày.
* Phòng bệnh lở mồm long móng
– Vắc- xin phòng bệnh lở mồm long móng là vắc- xin vô hoạt dạng nhũ dầu.
– Liều tiêm: 1 ml/con, tiêm sâu vào bắp thịt.
– Thời gian tiêm:
+ Chủng mũi đầu tiên: lúc 4 tháng tuổi.
+ Chủng tăng cường: 9 tháng sau mũi đầu tiên.
+ Tái chủng: cứ 12 tháng chủng lại.
+ Sau 2 tuần có miễn dịch, tiêm nhắc lại tùy thuộc vào tình hình dịch bệnh của địa phương.
* Phòng và trị bệnh kí sinh trùng đường máu cho dê
– Thuốc Trypamidium, liều 1 mg/kg TT. Pha với nước cất hoặc nước sinh lý (dung dịch NaCl 0,9%) thành dung dịch 2 – 3%, tiêm tĩnh mạch.
Thuốc có tác dụng trị bệnh tiên mao trùng, đồng thời có tác dụng phòng bệnh tiên mao trùng cho dê trong vòng 1 – 1,5 tháng. Chú ý tiêm cho dê vào mùa hè (khi côn trùng môi giới truyền bệnh là ruồi trâu và mòng hoạt động mạnh).
– Thuốc Hemosporidin, liều 0,5 mg/kg TT, pha thành dung dịch 1%, tiêm tĩnh mạch để điều trị bệnh lê dạng trùng cho dê.
* Phòng trị bệnh giun tròn cho dê
Có thể dùng một trong các thuốc sau:
– Thuốc Levamisol: liều 1 ml/10kg TT (6 – 7 mg/kg TT), tiêm bắp thịt.
– Thuốc Mebendazol: liều 15 – 20 mg/kg TT, hoà sữa hoặc nước, cho uống.
– Thuốc Ivermectin: liều 0,2 – 0,3 mg/kg TT, tiêm dưới da.
* Phòng trị bệnh sán lá gan, sán lá dạ cỏ cho dê
Có thể dùng một trong các thuốc sau:
– Thuốc Fasciolid – 25: liều 0,04 ml/kg TT (tương đương với 1 mg hoạt chất /kg TT), tiêm dưới da.
– Thuốc Dertil: liều 8 – 9 mg/kg TT, cho uống.
– Thuốc Albendazol: liều 50 mg/kg TT, cho uống.
* Phòng trị bệnh sán dây cho dê
– Thuốc Niclosamid: liều 20 mg/kg TT, cho uống.
* Phòng trị bệnh ngoại kí sinh trùng (ve, rận)
Phun định kì 2 tuần/lần cho dê bằng một trong các thuốc: Abuitox, Amitaz, Hantox 200…
Ngoài các vấn đề trên, cần chú ý thực hiện đầy đủ và nghiêm túc công tác kiểm dịch khi vận chuyển, xuất và nhập dê dưới sự giám sát của cơ quan thú y để khống chế sự lây lan dịch bệnh từ bên ngoài vào cơ sở chăn nuôi dê và ngược lại.
TN (Theo TTKNQG)
- chăn nuôi dê li> ul>
- Nhu cầu năng lượng của gia cầm đẻ và nguồn cung
- Nhiều lợi ích từ bổ sung đất sét cho thức ăn của bò sữa
- Điều chỉnh dinh dưỡng nhằm giảm tác động stress nhiệt ở gà thịt
- Khai mạc Hội nghị khoa học thú y thú nhỏ tại Hà Nội: Kết nối lý thuyết với thực hành, hướng tới chuẩn hóa chuyên môn
- Khai mạc InterPetFest Hà Nội 2026: Lễ hội thú cưng quy mô quốc tế lần đầu tiên có mặt tại Thủ đô
- Hội nghị Thú y Thú nhỏ Việt Nam 2026: Cập nhật chuyên sâu phẫu thuật và kiểm soát dấu hiệu sinh tồn
- Vai trò của nucleotide trong dinh dưỡng chức năng – Cải thiện tăng trưởng và khả năng chống chịu dịch bệnh cho vật nuôi với nucleotide tinh khiết
- Cập nhật dinh dưỡng axit amin cho gà thịt
- Quản lý stress cai sữa và tối ưu năng suất heo thịt
- Làn sóng tăng trưởng của thị trường thú cưng và cơ hộ mới cùng ELT Science
Tin mới nhất
T3,21/04/2026
- Nhu cầu năng lượng của gia cầm đẻ và nguồn cung
- Nhiều lợi ích từ bổ sung đất sét cho thức ăn của bò sữa
- Giá sản phẩm chăn nuôi (giá tại trại) cả nước ngày 21/04/2026
- Acid Glycyrrhizic và chiết xuất cam thảo – Ý nghĩa trong kiểm soát sức khỏe trên đàn vật nuôi
- Kỹ thuật úm gà chính xác – Biến những gà con yếu ớt thành đàn gà năng suất cao
- Điều chỉnh dinh dưỡng nhằm giảm tác động stress nhiệt ở gà thịt
- Cuộc đua chăn nuôi năm 2026 bùng nổ: Loạt ‘đại gia’ nhắm đích nghìn tỷ
- Tái định hình chiến lược sử dụng khoáng vi lượng để đáp ứng mục tiêu chăn nuôi bền vững
- IPVS 2026: Cơ hội cập nhật và kết nối tại Hội nghị ngành heo lớn nhất thế giới
- Giá heo hơi ngày 20/4: Đầu tuần đi ngang, thị trường duy trì trạng thái ổn định
- AChaupharm: Nấm phổi gia cầm, hiểm họa thầm lặng khi giao mùa
- Chuyên gia bàn giải pháp sử dụng kháng sinh có kiểm soát trong chăn nuôi
- Ngành sữa Việt Nam: Cơ hội “bứt phá” từ nội lực
- Dịch tả heo châu Phi: Hiện trạng và giải pháp kiểm soát hiệu quả (Phần 1)
- Bộ NN&MT mở đợt ‘truy quét’ việc lạm dụng chất kích tăng trưởng, tăng trọng
- Cargill rút khỏi ngành thức ăn thủy sản tại Việt Nam, đóng cửa nhà máy tại Đồng Tháp và Long An
- Chăn nuôi dê bền vững theo chuỗi giá trị: Chủ nhà hàng là mắt xích quan trọng
- Da khỏe, lông đẹp: Chiến lược dinh dưỡng hiệu quả cho heo con sau cai sữa
- Lo ngại bệnh than, Campuchia ngừng nhập một số sản phẩm từ Thái Lan
- Cạn tiền, một công ty tại Nam Phi phải tiêu hủy hơn 350.000 con gà
























Bình luận mới nhất