Cần tối đa hóa lượng ăn vào của lợn nái đang nuôi con để nâng cao năng suất sinh sản và tốc độ tăng trưởng của lứa đẻ. Gần đây, tôi đã tham gia vào một cuộc thảo luận sôi nổi với một nhà chăn nuôi lợn để bàn về giá trị thực sự của thức ăn cho lợn nái đang nuôi con. Anh ấy đang sử dụng loại thức ăn pha loãng bằng cách bổ sung các sản phẩm phụ rẻ tiền, trong khi tôi đang ủng hộ việc sử dụng một loại thức ăn giàu dinh dưỡng hơn nhưng cũng đắt tiền hơn. Vấn đề là trọng lượng khi cai sữa của lứa thấp và lợn nái gầy tại thời điểm cai sữa gây nên tình trạng khó (chậm) phối giống lại.

Tôi đã phải nhắc nhở anh ấy về việc nên tối đa hóa lượng ăn vào của lợn nái đang nuôi con để nâng cao năng suất sinh sản và tốc độ tăng trưởng của lứa đẻ. Với mỗi 10% lượng mỡ cơ thể mà lợn nái mất đi trong giai đoạn nuôi con, số lượng lợn con trong lứa đẻ tiếp theo sẽ giảm đi một con. Tương tự vậy, mỗi ki-lô-gram cân nặng cơ thể mà lợn nái bị giảm đi trong đợt nuôi con trước đó sẽ khiến cho thời gian thụ thai bị kéo dài thêm một ngày. Tuy vẫn chưa có ghi nhận cụ thể nào về tác động của việc tăng lượng ăn vào ở lợn nái đang nuôi con đến sự tăng trưởng của lứa đẻ, nhưng các hệ thống chăn nuôi chú trọng đến cân nặng của lợn lúc cai sữa lại rất xem trọng vấn đề này.
Sữa lợn nái là một nguồn dinh dưỡng dồi dào; nó chứa khoảng 200 g/kg chất khô, 55 g/kg protein, 50 g/kg lactose và 80 g/kg chất béo, ở dạng lỏng. Hàm lượng năng lượng chuyển hóa (ME) được tính toán là khoảng 5,4 MJ/kg. Giả định rằng lợn con đang bú cần khoảng 22 MJ ME/kg tăng trọng để tăng trưởng, và hàm lượng protein trong sữa lợn nái được cân bằng lý tưởng, dựa trên tính toán năng lượng (22/5,4~4) thì ước tính lợn con cần khoảng 4 kg sữa nái cho mỗi kg tăng trọng.
Một khẩu phần thông thường của lợn nái đang nuôi con dựa trên các loại ngũ cốc và protein thực vật có chứa khoảng 14 MJ ME/kg. Hệ số biên của việc chuyển đổi năng lượng thức ăn thành năng lượng sữa là khoảng 70%. Điều này ngụ ý rằng mỗi kg thức ăn có khả năng tạo ra 9,8 MJ ME để sản xuất sữa. Nếu chất lượng và hàm lượng protein trong khẩu phần không hạn chế việc sản xuất sữa, thì một con lợn nái sẽ sản xuất được khoảng 2 kg sữa (9,8 / 5,4 ~ 2) trên mỗi kg thức ăn tiêu thụ vượt quá nhu cầu duy trì. Nếu chất dinh dưỡng trong khẩu phần và lượng ăn vào bị hạn chế, thì việc sản xuất sữa và năng suất của lợn nái sẽ bị ảnh hưởng.
Trong trường hợp của chúng tôi, lợn nái tiêu thụ trung bình 5 kg thức ăn /ngày và chúng tôi đã cố gắng tăng mức này lên thêm 2 kg/ngày bằng cách loại bỏ các nguồn chất xơ lớn và bổ sung thêm năng lượng và protein. Đúng như dự đoán, lợn nái đã giữ được thể trạng tốt hơn, và trọng lượng lợn con lúc cai sữa cũng tăng lên đáng kể. Việc tăng thêm 2 kg thức ăn/ngày này sẽ giúp nái tạo ra thêm 4 kg sữa, được chuyển đổi thành mức tăng trọng 1 kg/ngày cho lợn con. Giả sử thời gian nái cho con bú là 25 ngày và có 12 lợn con trên mỗi lứa, thì trọng lượng lợn con khi cai sữa của lứa này sẽ tăng thêm khoảng 2kg/ con (25/12~2 kg).
Biên dịch: Ecovet Team (theo feedstrategy)
Nguồn tin: Ecovet
- dinh dưỡng cho heo con li>
- trọng lượng lợn con li> ul>
- Mô hình nuôi vịt Grimaud trên sàn nhựa: Hướng đi mới giúp nông dân giảm chi phí và tăng năng suất chăn nuôi
- Hiệu quả của kháng sinh Tylvalosin trên heo thịt khi đối diện thử thách với chủng virus PRRS tự nhiên
- Nhà máy TĂCN thông minh: Tích hợp tự động hóa, IoT và trí tuệ nhân tạo
- Ứng dụng công nghệ chăn nuôi bò Hanwoo trong chăn nuôi bò H’Mông: Những kết quả bước đầu từ khảo sát thực địa tại Tuyên Quang
- Chủ động xây dựng hệ thống phòng bệnh lở mồm long móng: Hướng phát triển bền vững cho ngành chăn nuôi
- Bài học từ 30 năm chống cúm gia cầm H5N1 tại châu Á: Cảnh báo cho nguy cơ dịch bệnh mới nổi
- Gắn thiết bị GPS cho đàn bò: Hướng đi mới trong phát triển chăn nuôi thông minh ở vùng cao
- Đồng Nai: Tiêu hủy gần 2.000 con lợn mắc dịch tả lợn châu Phi, khẩn trương ngăn dịch lây lan
- Kiểm soát PRRS, ASF và FMD SAT1 bằng giải pháp sinh học và công nghệ chăn nuôi hiện đại – Bài học thực tiễn từ Trung Quốc
- Tổng giám đốc AVAC Việt Nam kiến nghị về diễn giải kết quả xét nghiệm ổ dịch trong bối cảnh vắc-xin ASF đã được lưu hành tự do
Tin mới nhất
T5,09/07/2026
- Mô hình nuôi vịt Grimaud trên sàn nhựa: Hướng đi mới giúp nông dân giảm chi phí và tăng năng suất chăn nuôi
- Hội Chăn nuôi Việt Nam và Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế: Thúc đẩy phối hợp, chuẩn bị cho AAAP 2026
- Hướng dẫn mới về hồ sơ đăng ký xuất khẩu thực phẩm có nguồn gốc động vật sang Trung Quốc theo Nghị định 280
- Gỡ vướng thủ tục trong lĩnh vực nông nghiệp: Dabaco kiến nghị hoàn thiện chính sách về thức ăn chăn nuôi và an toàn thực phẩm
- Hiệu quả của kháng sinh Tylvalosin trên heo thịt khi đối diện thử thách với chủng virus PRRS tự nhiên
- Nhà máy TĂCN thông minh: Tích hợp tự động hóa, IoT và trí tuệ nhân tạo
- FUJINUCO kỷ niệm chặng đường 15 năm phát triển, tiếp tục mở rộng hệ sinh thái ngành chăn nuôi
- Ứng dụng công nghệ chăn nuôi bò Hanwoo trong chăn nuôi bò H’Mông: Những kết quả bước đầu từ khảo sát thực địa tại Tuyên Quang
- Hội Chăn nuôi Thỏ Việt Nam kiến nghị giảm phí kiểm soát giết mổ, gỡ khó cho ngành chăn nuôi còn nhiều dư địa phát triển
- Chăn nuôi heo thông minh: Tối ưu hóa năng suất sinh sản
- Ngành chăn nuôi heo trước thách thức mới trên hành trình phát triển bền vững
- Chuyên gia bàn giải pháp sử dụng kháng sinh có kiểm soát trong chăn nuôi
- Ngành sữa Việt Nam: Cơ hội “bứt phá” từ nội lực
- Dịch tả heo châu Phi: Hiện trạng và giải pháp kiểm soát hiệu quả (Phần 1)
- Bộ NN&MT mở đợt ‘truy quét’ việc lạm dụng chất kích tăng trưởng, tăng trọng
- Cargill rút khỏi ngành thức ăn thủy sản tại Việt Nam, đóng cửa nhà máy tại Đồng Tháp và Long An
- Chăn nuôi dê bền vững theo chuỗi giá trị: Chủ nhà hàng là mắt xích quan trọng
- Da khỏe, lông đẹp: Chiến lược dinh dưỡng hiệu quả cho heo con sau cai sữa
- Lo ngại bệnh than, Campuchia ngừng nhập một số sản phẩm từ Thái Lan
- Cạn tiền, một công ty tại Nam Phi phải tiêu hủy hơn 350.000 con gà






















Bình luận mới nhất