Thức ăn gia súc và nguyên liệu:
Ước giá trị nhập khẩu nhóm mặt hàng thức ăn gia súc và nguyên liệu trong tháng 5/2018 ước đạt 335 triệu USD, đưa tổng giá trị thức ăn gia súc và nguyên liệu nhập khẩu 5 tháng đầu năm 2018 đạt 1,61 tỷ USD, tăng 11,5% so với cùng kỳ năm 2017. Ba thị trường nhập khẩu chính của nhóm mặt hàng này trong 4 tháng đầu năm 2018 là Achentina, Hoa Kỳ, và Brazil, chiếm thị phần lần lượt là 38,1%, 15,6% và 8,6% tổng giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu. Các thị trường có giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu tăng mạnh so với cùng kỳ năm 2017 là Braxin (gấp gần 9 lần), Trung Quốc (44%), Thái Lan (42,4%) và Hoa Kỳ (28,6%).
Đậu tương:
Ước khối lượng đậu tương nhập khẩu trong tháng 5/2018 đạt 150 nghìn tấn với giá trị 68 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị đậu tương nhập khẩu đậu tương trong 5 tháng đầu năm 2018 đạt 712 nghìn tấn và 310 triệu USD, giảm 2,4% về khối lượng và giảm 3,5% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017.
Ngô:
Ước tính khối lượng ngô nhập khẩu trong tháng 5/2018 đạt 859 nghìn tấn với giá trị đạt 173 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị ngô nhập khẩu trong 5 tháng đầu năm 2018 đạt 3,91 triệu tấn và giá trị đạt 770 triệu USD, tăng 26,3% về khối lượng và tăng 23,1% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017. Achentina và Braxin là hai thị trường nhập khẩu ngô chính trong 4 tháng đầu năm 2018, chiếm thị phần lần lượt là 69,2% và 15,8% tổng giá trị nhập khẩu của mặt hàng này. Trong đó, thị trường có giá trị nhập khẩu tăng mạnh nhất trong 4 tháng đầu năm 2018 là Ấn Độ (gấp hơn 11 lần) và Achentina (gấp hơn 3 lần). Thị trường có giá trị nhập khẩu mặt hàng ngô giảm mạnh nhất trong 4 tháng đầu năm 2018 là Thái Lan với mức giảm là 82,5% so với cùng kỳ năm 2017.
Lúa mì:
Ước tính khối lượng nhập khẩu lúa mì trong tháng 5/2018 đạt 708 nghìn tấn với giá trị đạt 164 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị lúa mì nhập khẩu trong 5 tháng đầu năm 2018 đạt 2,44 triệu tấn và 568 triệu USD, tăng 13,2% về khối lượng và tăng 28,7% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017. Ba thị trường nhập khẩu lúa mì chính trong 4 tháng đầu năm 2018 là Nga, Úc và Canada với thị phần lần lượt là 43,2%, 30,9% và 8,9%. Các thị trường có giá trị nhập khẩu lúa mì tăng mạnh so với cùng kỳ năm 2017 là Hoa Kỳ (gấp 47,8 lần ) và Nga (gấp 15,6 lần).
Sữa và SP từ sữa:
Theo số liệu thống kê sơ bộ từ TCHQ, kim ngạch nhập khẩu sữa và sản phẩm từ sữa của Việt Nam trong tháng 5/2018 tăng trở lại so với tháng 4 tăng 2,2% đạt 86,1 triệu USD, nâng kim ngạch 5 tháng đầu năm 2018 lên 421,6 triệu USD, tăng 10,4% so với cùng kỳ năm 2017.
New Zealand thị trường chính nhập khẩu sữa của Việt Nam chiếm 35,8% tỷ trong, tuy nhiên 5 tháng đầu năm 2018 kim ngạch nhập từ thị trường này chỉ tăng 75,96% đứng thứ hai sau Nhật Bản tăng 88,37%.
New Zealand tiếp tục là thị trường chính Việt Nam nhập khẩu sữa và sản phẩm, chiếm 35,8% tổng kim ngạch, với 151,1 triệu USD, tăng 75,96% so với cùng kỳ 2017, tính riêng tháng 5 kim ngạch nhập từ thị trường này 21,7 triệu USD giảm 33,17% so với tháng 4/2018 nhưng tăng 33,38% so với tháng 5/2017.
| Thị trường | T5/2018 (USD) | +/- so với tháng 4 (%) | 5T đầu năm 2018 (USD) | +/- so với cùng kỳ 2017 (%) |
| New Zealand | 21.706.022 | -33,17 | 151.114.600 | 75,96 |
| Singapore | 12.348.943 | 14,2 | 54.633.853 | -2,23 |
| Hoa Kỳ | 11.651.825 | 83,16 | 49.239.476 | 50,99 |
| Đức | 5.255.890 | -32,47 | 26.304.688 | 25,54 |
| Thái Lan | 5.066.958 | 45,38 | 25.518.986 | 11,85 |
| Hà Lan | 3.728.772 | -3,31 | 15.716.090 | -13,93 |
| Malaysia | 3.440.522 | 3,46 | 14.876.406 | -12,56 |
| Pháp | 3.115.945 | 47,15 | 13.872.456 | 5,56 |
| Nhật Bản | 3.967.381 | 81,21 | 11.857.280 | 88,37 |
| Australia | 2.100.149 | -16,24 | 10.786.687 | -39,18 |
| Ba Lan | 4.409.440 | 263,9 | 6.940.106 | -49,59 |
| Ireland | 991.656 | -27,52 | 6.734.304 | -53,86 |
| Tây Ban Nha | 1.493.262 | 93,56 | 5.263.909 | 48,63 |
| Hàn Quốc | 1.364.053 | 30,84 | 4.565.400 | 17,91 |
| Philippines | 697.853 | 565,98 | 2.001.023 | 24,25 |
| Bỉ | 555.422 | 75,63 | 1.279.625 | -9,95 |
| Đan Mạch | 129.218 | 76,2 | 569.552 | -52,13 |
Sắn và các sản phẩm từ sắn XK:
Khối lượng xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn trong tháng 5 năm 2018 ước đạt 200 nghìn tấn với giá trị đạt 91 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn 4 tháng đầu năm 2018 ước đạt 1,3 triệu tấn và 460 triệu USD, giảm 25,6% về khối lượng nhưng tăng 7,3% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017. Trong 4 tháng đầu năm 2018, Trung Quốc là thị trường nhập khẩu chính, chiếm tới 88,4% thị phần, giảm 25,5% về khối lượng nhưng tăng 2,7% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017.
Nguồn: Chăn nuôi Việt Nam
- Giá heo hơi ngày 19/8: Mặt bằng 55.000-57.000 đồng/kg, một số địa phương tăng giá
- Giá sản phẩm chăn nuôi (giá tại trại) cả nước ngày 18/8/2026
- Giá heo hơi ngày 18/8 giảm nhẹ, thị trường chưa xuất hiện lực tăng
- Giá heo hơi hôm nay 17/8: Đà giảm tạm chững, thị trường vẫn ở vùng thấp
- Giá heo hơi ngày 11/8: Mặt bằng giá thấp, thị trường chưa có tín hiệu phục hồi
- Giá heo hơi ngày 6/8: Dao động 60.000–63.000 đồng/kg, thị trường tiếp tục đi ngang
- Giá heo hơi ngày 5/8: Tiếp đà giảm tại nhiều địa phương, thị trường chưa có động lực bứt phá
- Nhiều doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi tăng giá bán lần thứ 5
- Giá sản phẩm chăn nuôi (giá tại trại) cả nước ngày 4/8/2026
- Bản tin thị trường ngành thịt trong nước và thế giới tháng 7/2026
Tin mới nhất
T5,20/08/2026
- GALLIPRO®: Cải thiện hệ số chuyển hóa thức ăn và sản lượng trứng ở gà đẻ
- Giải bài toán phân sống, phân ướt trên đàn gà
- Hà Nội lần đầu đón Petfair Vietnam phiên bản “Mùa Lễ hội”
- Giá heo hơi ngày 19/8: Mặt bằng 55.000-57.000 đồng/kg, một số địa phương tăng giá
- Nước điện phân chứa Acid hypochlorous (HOCl): Phương tiện rẻ tiền mà hiệu quả cho chăn nuôi gia súc, gia cầm, thú cưng và hơn thế nữa
- Hòa Phát sẽ nhập khẩu bò thịt Thái Lan từ tháng 12/2026
- Hanvet và Đại học VinUniversity ký kết biên bản ghi nhớ nhằm thúc đẩy hợp tác trong nghiên cứu và phát triển nhân tài
- Giá sản phẩm chăn nuôi (giá tại trại) cả nước ngày 18/8/2026
- MiXscience Asia ra mắt giải pháp Tecnoshell by Enviup: Cải thiện chất lượng vỏ trứng và tối ưu hiệu suất đàn gà đẻ
- Thanh Hóa yêu cầu kiểm soát chặt môi trường, dịch bệnh và an toàn lao động trong chăn nuôi
- Cargill tiếp tục sản xuất thức ăn cá tại nhà máy Biên Hòa và Hưng Yên
- Vượt qua thách thức Gumboro và H9N2 để nâng cao hiệu quả chăn nuôi gia cầm
- Doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi: Chia sẻ khó khăn cùng người chăn nuôi
- Ngành chăn nuôi heo trước thách thức mới trên hành trình phát triển bền vững
- Chuyên gia bàn giải pháp sử dụng kháng sinh có kiểm soát trong chăn nuôi
- Ngành sữa Việt Nam: Cơ hội “bứt phá” từ nội lực
- Dịch tả heo châu Phi: Hiện trạng và giải pháp kiểm soát hiệu quả (Phần 1)
- Bộ NN&MT mở đợt ‘truy quét’ việc lạm dụng chất kích tăng trưởng, tăng trọng
- Cargill rút khỏi ngành thức ăn thủy sản tại Việt Nam, đóng cửa nhà máy tại Đồng Tháp và Long An
- Chăn nuôi dê bền vững theo chuỗi giá trị: Chủ nhà hàng là mắt xích quan trọng
























Bình luận mới nhất