Tổn thất dinh dưỡng tiềm ẩn trong thức ăn và vai trò của khoáng vi lượng trong chăn nuôi gia cầm bền vững - Chăn nuôi Việt Nam
    • Giá heo (lợn) hơi miền Bắc từ 60.000 - 70.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hà Nội 69.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hưng Yên 70.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Trung và Tây Nguyên từ 68.000 - 72.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Quảng Trị 70.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Thanh Hóa 68.000đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Lâm Đồng 72.000đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Nam từ 69.000 - 72.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Đồng Nai 72.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Cà Mau 70.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Đồng Tháp 71.000 đ/kg
    •  
  • Tổn thất dinh dưỡng tiềm ẩn trong thức ăn và vai trò của khoáng vi lượng trong chăn nuôi gia cầm bền vững

    [Chăn nuôi Việt Nam] – Ngày 13/5 tại TP. Hồ Chí Minh và ngày 15/5 tại TP. Hà Nội, Công ty Trouw Nutrition Việt Nam đã tổ chức thành công chuỗi hội thảo Poultry School: Insights Drive Impact, diễn đàn chuyên sâu về dinh dưỡng gia cầm. Sự kiện quy tụ đông đảo các nhà khoa học, chuyên gia trong lĩnh vực chăn nuôi gia cầm, cùng đại diện các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi và các trang trại chăn nuôi trên cả nước, tạo diễn đàn trao đổi cập nhật kiến thức và giải pháp dinh dưỡng trong bối cảnh ngành gia cầm Việt Nam đang ngày càng yêu cầu cao về hiệu quả và tính bền vững.

     

    Thông điệp xuyên suốt chuỗi hội thảo dinh dưỡng chuyên sâu tập trung nhấn mạnh rằng phát triển chăn nuôi gia cầm không chỉ dừng lại ở tối ưu năng suất mà còn là bài toán cân bằng giữa hiệu quả kinh tế và trách nhiệm đối với cộng đồng. Trong đó, chủ đề thất thoát tiềm ẩn trong thức ăn và vai trò của khoáng vi lượng đã thu hút sự quan tâm lớn của giới chuyên môn, khi đặt ra một vấn đề ít được nhìn thấy nhưng ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả chăn nuôi: sự thất thoát dinh dưỡng ngay từ trong thức ăn.

     

    Ông Duco Onnes, Tổng Giám đốc Nutreco Việt Nam phát biểu khai mạc hội thảo (Ảnh: Trouw Nutrition)

     

    Phát biểu khai mạc hội thảo, ông Duco Onnes, Tổng Giám đốc Nutreco Việt Nam, cho rằng thách thức lớn của ngành thực phẩm toàn cầu hiện nay là làm thế nào để cung cấp lương thực một cách bền vững trong bối cảnh dân số thế giới tiếp tục gia tăng. Nutreco đang theo đuổi cam kết ứng dụng chuyên môn sâu về dinh dưỡng để góp phần giải quyết bài toán then chốt này, hướng tới mục tiêu nuôi sống khoảng 10 tỷ người vào năm 2050 trong giới hạn chịu tải của hành tinh. Điều đó đòi hỏi không chỉ gia tăng sản lượng thực phẩm mà còn phải đồng thời giảm phát thải khí nhà kính và tối ưu hiệu quả sử dụng tài nguyên trong toàn chuỗi sản xuất.

     

    Đông đảo khách mời tham dự hội thảo Poultry School Seminar tại Hồ Chí Minh (13/5) và Hà Nội (15/5) (Ảnh: Trouw Nutrition)

     

    Áp lực của ngành gia cầm Việt Nam

     

    Tại hội thảo, ông Bùi Phước Kỳ Nam, Giám đốc Marketing Chiến lược Nutreco Việt Nam, cho biết ngành gia cầm nước ta đang tăng trưởng ổn định với tổng đàn khoảng 585 triệu con. Giai đoạn 2020–2024, sản lượng thịt gia cầm tăng bình quân 6,9%/năm, đạt 2,46 triệu tấn; sản lượng trứng đạt 20,3 tỷ quả, tăng 5,1%/năm. Tuy nhiên, ngành đang chịu áp lực lớn từ chi phí đầu vào, dịch bệnh và cạnh tranh của thịt gà nhập khẩu giá rẻ, chỉ bằng khoảng 60–70% giá trong nước.

     

    Theo ông Nam, Việt Nam nhập khẩu lượng lớn thịt gia cầm, khiến ngành khó cạnh tranh về giá, buộc phải chuyển sang nâng cao hiệu quả sản xuất, an toàn sinh học và chất lượng sản phẩm. Đồng thời, xu hướng tiêu dùng đang dịch chuyển từ “protein giá rẻ” sang thực phẩm an toàn, có truy xuất nguồn gốc và tạo niềm tin.

     

     Ông Bùi Phước Kỳ Nam, Giám đốc Marketing Chiến lược Nutreco Việt Nam (Ảnh: Trouw Nutrition)

     

    Giai đoạn 2026–2030, dự báo ngành sẽ phân hóa mạnh giữa doanh nghiệp chăn nuôi tích hợp quy mô lớn và nông hộ nhỏ lẻ, cùng khoảng cách công nghệ ngày càng rõ rệt giữa mô hình hiện đại và truyền thống. Theo ông Nam, doanh nghiệp cần phát triển hệ sinh thái giải pháp tổng thể gồm thức ăn, phụ gia, dịch vụ kỹ thuật và công cụ quản lý trang trại, thay vì cung cấp sản phẩm đơn lẻ. Những đơn vị kiểm soát tốt hiệu quả sản xuất, tuân thủ tiêu chuẩn và an toàn sinh học sẽ có lợi thế dẫn đầu.

     

    Ở góc độ dinh dưỡng và quản lý kháng sinh, bà Đào Thị Kim Anh, Quản lý dinh dưỡng phụ gia thức ăn chăn nuôi, Trouw Nutrition, cho biết, kháng kháng sinh có thể làm tăng tỷ lệ chết ở vật nuôi khoảng 1%, tương đương thiệt hại 13 tỷ USD của ngành chăn nuôi. Tuy nhiên, bà cho rằng, xu hướng lạm dụng kháng sinh trong chăn nuôi hoàn toàn có thể đảo ngược. Dẫn chứng tại Hà Lan, việc giảm 76% sử dụng kháng sinh vẫn giúp quốc gia này duy trì cạnh tranh và tăng trưởng xuất khẩu, đồng thời cải thiện năng suất và hiệu quả sản xuất.

     

    Tại Việt Nam, từ năm 2026, tất cả kháng sinh sẽ bị cấm sử dụng trong thức ăn chăn nuôi với mục đích phòng bệnh, kể cả với vật nuôi non. Việc siết chặt quy định của Chính phủ đang thúc đẩy nhu cầu tìm kiếm và phát triển các giải pháp thay thế kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi để thích ứng và đảm bảo hiệu quả sản xuất. Giảm kháng sinh hiệu quả cần được triển khai đồng bộ từ dinh dưỡng, quản lý thức ăn, an toàn sinh học đến kiểm soát sức khỏe đường ruột, thay vì chỉ thay thế kháng sinh bằng một sản phẩm đơn lẻ.

     

    Giảm protein khẩu phần, tăng sử dụng khoáng hữu cơ và phụ phẩm nội địa là hướng đi mới của ngành gia cầm

     

    Trước những vấn đề mà ngành gia cầm đang đối mặt, các giải pháp dinh dưỡng tối ưu hiệu quả sản xuất và giảm phát thải đang trở thành xu hướng quan trọng trong phát triển chăn nuôi gia cầm tại Việt Nam. Theo PGS.TS Chế Minh Tùng, các chiến lược dinh dưỡng chính xác, tận dụng phụ phẩm nội địa, giảm protein khẩu phần và tăng sử dụng khoáng hữu cơ sẽ là giải pháp then chốt giúp ngành gia cầm nâng cao hiệu quả sản xuất, giảm phụ thuộc nhập khẩu và hướng tới phát triển bền vững.

     

    PGS.TS Chế Minh Tùng, Trưởng bộ môn Chăn nuôi, Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh (Ảnh: Trần Linh)

     

    PGS.TS Chế Minh Tùng cho hay, chiến lược dinh dưỡng chính xác trong chăn nuôi gia cầm cần được xây dựng trên ba trụ cột: phát triển cơ sở dữ liệu nguyên liệu thức ăn; ước tính nhu cầu dinh dưỡng bằng mô hình động; và tối ưu hóa cho ăn thông qua điều chỉnh khẩu phần và phương thức cung cấp thức ăn. Ông khuyến cáo, cần chuyển sang sử dụng năng lượng thuần (NE) thay cho hệ thống ME, áp dụng SID amino acid thay cho tổng amino acid, đồng thời ước tính NE từ AME và các phương trình dự đoán để nâng cao độ chính xác khẩu phần. Mục tiêu là xây dựng khẩu phần đáp ứng mức nhu cầu thấp nhất, nhưng vẫn đảm bảo hiệu quả kỹ thuật.

     

    Bên cạnh đó, việc ưu tiên protein bền vững, phụ gia chức năng để tăng miễn dịch, cải thiện tiêu hóa và chất lượng thịt; sử dụng glutamine, vitamin, khoáng và phytogenic giúp giảm stress nhiệt và duy trì năng suất. Đồng thời, tăng sử dụng nguyên liệu nội địa là giải pháp quan trọng nhằm giảm phụ thuộc nhập khẩu.

     

    “Hiện tại chỉ dưới 20% phụ phẩm nông nghiệp được sử dụng làm thức ăn chăn nuôi hoặc các ứng dụng giá trị cao khác. Trong khi đó, Việt Nam hướng tới nâng cao tỷ lệ tái chế và tái sử dụng phụ phẩm nông nghiệp lên 70% vào năm 2030”, PGS.TS Chế Minh Tùng chia sẻ.

     

    Một yếu tố kỹ thuật quan trọng là chiến lược giảm protein thô (CP) nhưng cân bằng acid amin thiết yếu. Tổng hợp từ 106 thí nghiệm quốc tế giai đoạn 2017–2023 cho thấy, khi giảm 1% protein thô, FCR tăng khoảng 1,3% nhưng nitơ bài thải giảm tới 10,4%, trong khi tăng trọng và lượng ăn vào ít thay đổi. Các nghiên cứu trên gà Lương Phượng tại Việt Nam cũng ghi nhận giảm khoảng 2% protein thô chưa ảnh hưởng đáng kể đến tăng trưởng nếu khẩu phần hợp lý.

     

    Bên cạnh protein, PGS.TS Chế Minh Tùng cũng nhấn mạnh xu hướng giảm sử dụng khoáng vi lượng vô cơ truyền thống do sinh khả dụng thấp và gây áp lực môi trường. Các dạng khoáng hữu cơ, chelate và hydroxy được đánh giá có khả năng hấp thu tốt hơn, cho phép giảm mức bổ sung xuống khoảng 35–60% so với khoáng vô cơ thông thường mà vẫn duy trì năng suất chăn nuôi. Một số nghiên cứu được trình bày cho thấy việc giảm mạnh khoáng vi lượng vẫn có thể duy trì tăng trọng, tỷ lệ sống và chất lượng thân thịt, đồng thời làm giảm đáng kể lượng khoáng thải ra môi trường. Tuy nhiên, ông cũng lưu ý rằng việc cắt giảm khoáng cần được tính toán phù hợp vì giảm quá mức có thể làm xấu hệ số FCR ở giai đoạn cuối nuôi.

     

    Công nghệ IntelliBond: Giải pháp khoáng vi lượng ổn định, tối ưu hấp thu và giảm thất thoát dinh dưỡng trong chăn nuôi

     

    Trình bày tại hội thảo, ông Narendra Venkatareddy, Giám đốc Sản phẩm Toàn cầu – Khoáng vi lượng, Selko Feed Additives (Trouw Nutrition), cho rằng ngành chăn nuôi Việt Nam đang vận hành trong một trong những môi trường dinh dưỡng khắt khe nhất thế giới, do tác động đồng thời của khí hậu nóng ẩm, áp lực dịch bệnh, biến động nguyên liệu và yêu cầu năng suất cao. Theo ông, ngay cả khi quản lý trang trại tốt, hiệu suất vẫn có thể bị ảnh hưởng bởi thất thoát dinh dưỡng ngay trong thức ăn, đặc biệt là nhóm khoáng vi lượng.

     

    Ông Narendra Venkatareddy – Giám đốc Toàn cầu Khoáng Vi Lượng (Ảnh: Trần Linh)

    Bà Đào Thị Kim Anh – Quản lý cao cấp sản phẩm phụ gia (Ảnh: Trouw Nutrition)

     

    Một trong những nội dung trọng tâm là hiện tượng thất thoát khoáng có thể xảy ra xuyên suốt chuỗi sản xuất, từ premix, phối trộn, ép viên, bảo quản đến tiêu hóa và thải ra môi trường. Không phải toàn bộ khoáng bổ sung đều được hấp thu hiệu quả; các nguồn khoáng có tính phản ứng cao còn có thể thúc đẩy oxy hóa chất béo, làm giảm độ ổn định vitamin và ảnh hưởng chất lượng thức ăn. Ông cũng nhấn mạnh không phải tất cả khoáng hydroxy đều giống nhau, mà khác biệt ở cơ chế hòa tan, độ ổn định và khả năng giải phóng trong các điều kiện pH khác nhau.

     

    Theo đó, công nghệ IntelliBond được giới thiệu với đặc tính ít hòa tan ở pH trung tính, nhưng hòa tan trong môi trường pH thấp của đường tiêu hóa, giúp giảm tương tác bất lợi trong thức ăn nhưng vẫn đảm bảo giải phóng khoáng để hấp thu. IntelliBond kết hợp khả năng ổn định trong thức ăn với cơ chế giải phóng khoáng đúng vị trí mục tiêu. Sản phẩm sử dụng công nghệ Optisize™, nền tảng Hydroxy™ đầu tiên được cấp bằng sáng chế, với hơn 250 thử nghiệm trên vật nuôi và đang chiếm thị phần lớn trong phân khúc khoáng vi lượng cao cấp tại Bắc Mỹ.

     

    Nguồn khoáng ảnh hưởng trực tiếp đến độ ổn định dinh dưỡng trong bảo quản. “Khi sử dụng khoáng vi lượng từ IntelliBond, mặc dù bảo quản lâu hơn nhưng thất thoát vitamin E sẽ thấp hơn. Còn dùng khoáng vô cơ thì tỷ lệ thất thoát có thể lên tới 44%”, ông Narendra Venkatareddy thông tin.

     

    Một số thử nghiệm cũng ghi nhận sau 90 ngày bảo quản, thức ăn dùng khoáng hydroxy giữ khoảng 96% vitamin E, trong khi công thức dùng sulfate còn khoảng 92%. Dẫn chứng từ một đơn vị chăn nuôi ở Úc, thức ăn dùng khoáng hydroxy duy trì 94,4% vitamin E sau 3 tháng, trong khi công thức khác chỉ đạt 86,1% sau 1 tháng.

     

    Ông Narendra Venkatareddy cho rằng, những tổn thất nhỏ trong thức ăn có thể tạo ra chênh lệch lớn trong hiệu quả sản xuất, từ tăng trưởng, FCR, chất lượng trứng – thịt, sức khỏe đường ruột đến lượng chất thải môi trường. Về mặt sinh học, khoáng chỉ phát huy tác dụng khi được hòa tan thành ion và hấp thu qua hệ protein vận chuyển chuyên biệt, do đó chất lượng và dạng hóa học của khoáng quyết định hiệu quả sử dụng thực tế.

     

    Tác động của khoáng vi lượng cũng thể hiện rõ ở nhiều chỉ tiêu sản xuất. Ở gia cầm đẻ, Zn, Mn và Cu ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng vỏ trứng và tỷ lệ ấp nở; ở gia cầm thịt và heo, chúng tham gia tổng hợp collagen, ảnh hưởng độ bền mô liên kết, màu sắc thân thịt và khả năng giữ nước sau giết mổ. Đồng thời, khoáng vi lượng còn liên quan đến sức khỏe đường ruột, miễn dịch và khả năng chống chịu của vật nuôi.

     

    Tổng hợp các dẫn chứng cho thấy, hiệu quả khoáng vi lượng không chỉ phụ thuộc liều bổ sung mà còn ở dạng tồn tại hóa học và độ ổn định trong thức ăn, qua đó tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh tế toàn chuỗi sản xuất. Ông Narendra Venkatareddy nhấn mạnh, cần đánh giá khoáng dựa trên giá trị sinh học và hiệu quả sử dụng thực tế, thay vì chỉ dựa trên chi phí đầu vào, bởi “giá trị thật nằm ở khả năng vật nuôi hấp thu và sử dụng hiệu quả”.   

     

    Các đại biểu khách mời tham dự chụp ảnh lưu niệm (Ảnh: Trouw Nutrition)

     

    Có thể thấy, thành công trong ngành chăn nuôi hiện đại không chỉ dựa vào sản lượng mà phải dựa trên kiến thức chuyên sâu, chiến lược phòng ngừa bệnh tật, dinh dưỡng khoa học và cam kết phát triển bền vững. Việt Nam đang trên hành trình chuyển đổi sang nền kinh tế xanh, do đó ngành chăn nuôi cần thích ứng bằng cách sử dụng nguyên liệu thay thế bền vững, giảm phát thải và tăng cường sức đề kháng cho vật nuôi. Sự hợp tác giữa các doanh nghiệp, chuyên gia và nông dân là chìa khóa để đạt được mục tiêu này.

     

    Các đại biểu tham gia trao đổi thảo luận và các hoạt động tại hội thảo (Ảnh: Trouw Nutrition)

     

    Ngoài ra, hội thảo còn đem đến chương trình giảm kháng sinh của Trouw Nutrition được xây dựng dựa trên ba nhóm giải pháp chính gồm quản lý thức ăn chăn nuôi, quản lý trang trại và quản lý sức khỏe vật nuôi. 5 trụ cột chính nhằm bảo vệ sức khỏe đường ruột vật nuôi, gồm: ngăn ngừa mầm bệnh xâm nhập qua thức ăn và nước uống; hỗ trợ tiêu hóa; tăng cường chức năng hàng rào bảo vệ đường ruột; cân bằng hệ vi sinh vật đặc thù; và điều hòa miễn dịch. Trong chương trình sức khỏe đường ruột, mỗi sản phẩm được thiết kế để hỗ trợ vật nuôi ở một hoặc một số khía cạnh khác nhau của các trụ cột này.

     

    Bên cạnh đó, chương trình cũng tập trung theo dõi sức khỏe vật nuôi, sử dụng kháng sinh có trách nhiệm, xây dựng chiến lược vaccine phù hợp và kết hợp các phụ gia trong thức ăn, nước uống nhằm duy trì hiệu quả chăn nuôi. Một số nhóm phụ gia được giới thiệu gồm axit hữu cơ, khoáng vi lượng và các hợp chất hỗ trợ sức khỏe đường ruột như Selacid Green Growth, Presan-FY hay Selko AlpHa. Theo các thử nghiệm được trình bày, hỗn hợp axit hữu cơ có thể hỗ trợ kiểm soát tiêu hóa và sức khỏe đường ruột; các hợp chất chiết xuất thực vật góp phần nâng cao khả năng chống chịu của vật nuôi.

     

    Bà Tăng Thị Thu Yến, Giám đốc Thương mại Trouw Nutrition Việt Nam phát biểu tổng kết chương trình (Ảnh: Trouw Nutrition)

     

    Phạm Huệ

    Nutreco phát triển các giải pháp “vòng đời khỏe mạnh” tập trung hỗ trợ sức khỏe đường ruột, các giai đoạn chuyển tiếp và hỗ trợ vật nuôi trong các giai đoạn thách thức cụ thể trong chăn nuôi. Ở trụ cột “chăn nuôi chính xác bền vững”, doanh nghiệp cung cấp phụ gia thức ăn và các công nghệ hỗ trợ công thức dinh dưỡng hiệu suất cao nhằm tối ưu tăng trưởng, nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn và giảm phát thải. Song song, Nutreco đẩy mạnh mô hình và dịch vụ dinh dưỡng định lượng, bao gồm cho ăn chính xác, khuyến nghị công thức và chiến lược dinh dưỡng, hướng tới tối ưu giá trị thức ăn và hiệu suất có thể dự đoán trong toàn hệ thống chăn nuôi.

    Để lại comment của bạn

    Bình luận mới nhất

  • Nguyễn Thị Lành
  • Cần tư vấn

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Theo UBND xã Minh Châu – Ba Vì – Hà Nội, xác định lợi thế về đất đai, khí hậu nên những năm qua đã đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp là chính, trong đó xã tập trung đến phát triển chăn nuôi bò sinh sản, bò thịt. […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Trong bối cảnh bệnh Dịch tả lợn châu Phi (DTLCP) đã xảy ra tại TP Hồ Chí Minh, thành phố càng nỗ lực thực hiện các biện pháp kiểm soát chăn nuôi, giết mổ và tiêu thụ gắt gao. Hơn nữa, khảo sát một đêm tại thị trường […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Anh Trần Văn Toản, ở khu vực Bình Yên B, phường Long Hòa, quận Bình Thủy, TP. Cần Thơ là người đầu tiên ở Đồng bằng sông Cửu Long mở trang trại nuôi chim công rất thành công mà cho thu nhập hơn 200 triệu đồng/năm.   1/ […]

    • Giống chim này có khả năng thích ứng cao với điều kiện khí hậu ở nước ta, tỷ lệ nuôi sống đạt 94-99%.

    • Để đàn gà sinh trưởng phát triển tốt có tỷ lệ sống cao cần thực hiện tốt kỹ thuật úm gà con

    • Việt Nam cùng với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ… là những nước đã nuôi trồng thành công đông trùng hạ thảo.

    • Gà vảy cá được mệnh danh là “mỹ kê” đã được nhiều đại gia Việt sẵn sàng chi tiền triệu để hữu cặp gà vảy cá đẹp.

    • Cừu chính là loài vật nuôi thích hợp với những điều kiện khắc nghiệt của vùng đất Ninh Thuận.

    • Nghề nuôi chim cút đẻ hiện đang phổ biến ở rất nhiều hộ gia đình tại các địa phương và mang lại hiệu quả kinh tế khá.

    • Tỉnh Phú Thọ với địa hình đa dạng: nhiều gò, đồi thấp, dải đồng bằng thuận lợi cho chăn nuôi, trong đó, có chăn nuôi gà lông màu.