Ngày nay các sản phẩm tiềm năng đã được phát triển để thay thế kháng sinh và đây là lúc để xem xét các sản phẩm phụ gia thế hệ mới trong việc hỗ trợ sức khỏe đường ruột.
Trong 20 năm qua, các nhà khoa học đã tập trung vào cách để thay thế kháng sinh trong dinh dưỡng động vật. Tôi tin rằng chúng ta đã đạt được những thành công đáng kể, đặc biệt là khi chúng ta cũng đạt được những tiến bộ đáng kể trong quản lý, sức khỏe vật nuôi và an toàn sinh học.
Tuy nhiên một số chuyên gia dinh dưỡng vẫn ít quan tâm đến việc sử dụng phụ gia để thay thế kháng sinh. Đa số họ chỉ đơn giản là quan tâm đến loại phụ gia mà họ sử dụng có mang lại bất kỳ thay đổi nào liên quan đến phạm vi tác dụng của phụ gia đó trong hệ thống sản xuất của họ. Hầu hết các chất phụ gia như vậy đã trở thành các loại sản phẩm đơn thuần.

Vai trò của các chất thay thế kháng sinh
Đầu tiên chúng ta phải nhắc lại lý do tại sao kháng sinh được bổ sung vào thức ăn chăn nuôi. Không phải để trị bệnh do vi khuẩn gây ra, mà là loại bỏ sự suy giảm hiệu quả sử dụng thức ăn do bệnh ở thể cận lâm sàng (thể ẩn). Quan trọng hơn nữa, khi sử dụng trên các vật nuôi trưởng thành, kháng sinh chỉ đơn giản là làm giảm tải lượng vi sinh vật trong ruột; giảm sự tiêu thụ các chất dinh dưỡng của vi khuẩn, điều đó có nghĩa là có nhiều chất dinh dưỡng có sẵn hơn cho vật nuôi.
Các sản phẩm thay thế kháng sinh hiện đại cũng hoạt động ít nhiều như vậy. Ví dụ như các axit hữu cơ, các sản phẩm kẽm và đồng (nếu được cho phép và ở những loài có hiệu quả) và tất nhiên là cũng có các chiết xuất thực vật. Các probiotic cũng mang lại các hiệu quả như vậy, nhưng theo cách gián tiếp.
Các chất phụ gia thế hệ mới
Đã có các sự quan tâm đáng kể, nhưng vẫn chưa đủ, tới các sản phẩm tăng cường khả năng của vật nuôi trong việc tự điều chỉnh quá trình tiêu hóa dưỡng chất, khả năng đáp ứng miễn dịch và sự cân bằng hệ vi sinh. Đã có một số sản phẩm có tác dụng như vậy, nhưng kết quả vẫn chưa thực sự rõ ràng vì rất khó để đo lường các chỉ tiêu về sức khỏe đường ruột trong điều kiện thực tế.
Nhưng theo tôi, các “Phụ gia thế hệ mới” chính là xu hướng trong tương lai. Có nghĩa là thay vì chỉ kiểm soát các chủng vi khuẩn gây bệnh trong ruột bằng các sản phẩm từ bên ngoài cơ thể, chúng ta cũng có thể hỗ trợ đường ruột bằng cách để chúng tự làm việc đó. Probiotic và prebiotic chỉ là hai ví dụ nhanh để bạn dễ liên tưởng đến. Và mặc dù chúng đòi hỏi phải được cải tiến thêm để đạt được những mục tiêu như vậy, đặc biệt là prebiotic, thì chúng cũng là những ví dụ để minh chứng cho mục đích đó.
Trên lý thuyết, chúng ta có thể tiếp tục sử dụng các chất thay thế kháng sinh để kiểm soát sự phát triển của các vi khuẩn gây bệnh trong các giai đoạn đầu. Ngoài ra, để sử dụng lâu dài, chúng ta nên có các sản phẩm cho phép động vật tự điều chỉnh hệ vi sinh đường ruột để có lợi cho chính chúng.
Vũ khí trong cuộc chiến chống lại các mầm bệnh
Với probiotic, chúng ta đã có mộ số thành công trong việc chống lại các vi khuẩn gây bệnh. Tuy nhiên, điều này phụ thuộc vào đặc tính của các chủng vi khuẩn trong probiotic, và chúng phải sống được phần sau của ruột, và hoạt động trong những điều kiện không quá thuận lợi. Do đó hoặc là cho chúng có thời gian dài hơn để thiết lập trong ruột hoặc là sử dụng các chủng vi sinh rất mạnh. Đó vẫn là một cuộc chiến khó khăn và việc lựa chọn các chủng vi sinh thì có phần hạn chế. Cả hai loại probiotic như trên đều cố gắng để bắt chước các tác dụng của các vi khuẩn có lợi: tăng cường sản xuất các axit béo mạch ngắn, đặc biệt là axit butyric (ví dụ do vi khuẩn bifidobacterium trong cơ thể động vật sản xuất) hoặc axit lactic (cũng do vi khuẩn lactic trong cơ thể động vật sản xuất).
Theo tôi, giải pháp cuối cùng là tìm ra một chất phụ gia có thể giúp hệ vi sinh vật của vật nuôi hoạt động nhanh hơn hoặc hiệu quả hơn. Nhìn chung, các chủng vi khuẩn bản địa (trong cơ thể vật nuôi) biết cách tốt nhất để xử lý các mầm bệnh ẩn náo trong ruột (các vi khuẩn cơ hội) hoặc các vi khuẩn xâm nhập qua thức ăn hoặc nước uống.
Vấn đề cho đến nay là các sản phẩm không dễ dàng để đi qua được các điều kiện khắc nghiệt của dạ dày (có tính axit) và ruột non (có tính kiềm) và hoạt động mạnh mẽ của các enzyme nội sinh. Ngay cả các chất phụ gia nhắm vào phần ruột già (probiotic và axit butyric) cũng cần được bảo vệ. Điều này thậm chí càng khó khăn hơn khi các sản phẩm cần phải tiếp cận phần cuối của ruột già nơi mà hầu hết các mầm bệnh ẩn chứa. Nói cách khác, chúng ta cần phải tìm ra một cách hiệu quả để cung cấp một sự thúc đẩy đáng kể cho các vi khuẩn bản địa có lợi ở ruột già. Và đây là thách thức ở hiện tại và tương lai để xây dựng nhanh chóng một quần thể vi sinh vật bản địa khỏe mạnh.
Cách để hỗ trợ các vi sinh sinh vật bản địa
Để đạt được mục tiêu này, chúng ta phải nghiên cứu nhu cầu của các vi khuẩn có lợi và phải xem xét tới các thách thức mà chúng phải đối mặt. Sau đó chúng ta có thể tìm ra cách cung cấp dưỡng chất cho chúng tốt hơn và cách bảo vệ để chúng sinh sôi nảy nở tốt.
Cho đến nay chúng ta chỉ có một số prebiotic hoạt động hướng tới mục tiêu này, nhưng năng lượng chỉ là một trong những nhu cầu. Và các probiotic cũng có thể đóng vai trò nào đó. Trên thực tế, các probiotic tương lai có thể được hình dung như sau: thay vì cố gắng thay thế các vi khuẩn bản địa, thì chúng có thể hỗ trợ các vi khuẩn bản địa bằng cách cung cấp các chất dinh dưỡng hoặc bảo vệ các vi khuẩn bản địa trong suốt những giai đoạn đầu phát triển. Khả năng vô tận của các probiotic, prebiotic, các chất phụ gia hiện có và các hợp chất mới vẫn chưa được khám phá hết.
Nguồn: FeedStrategy
Biên dịch: Ecovet Team
- sức khỏe đường ruột li> ul>
- CERTILLUS® ECO: Giải pháp vi sinh độc quyền cho môi trường chăn nuôi bền vững từ ARM & HAMMER™ Animal Nutrition
- Bí quyết xây dựng khẩu phần khởi động tối ưu cho gà con
- 6 cách phòng ngừa thoái hoá xương ở gà đẻ
- Cơ chế phân bố thuốc vào trứng và ứng dụng trong thú y
- Oligosaccharides trong đậu nành với dinh dưỡng động vật non
- Grooming Talent Cần Thơ 2026: Định vị giá trị mới cho ngành chăm sóc thú cưng tại Việt Nam
- Loại sắt nào có thể giúp nội tạng phát triển và cải thiện chỉ tiêu máu của lợn con
- Những tips giúp giảm tỷ lệ tử vong ở lợn nái
- Nha khoa thú nhỏ: Tổn thương bắt đầu từ mảng bám
- Một số biện pháp giúp tăng hiệu quả sản xuất sữa
Tin mới nhất
T5,14/05/2026
- Đổi mới sinh kế từ mô hình chăn nuôi mới
- Lâm Đồng tiêu hủy hơn 9.500 con lợn mắc dịch tả châu Phi
- Việt Nam chi hơn 2,6 tỷ USD nhập ngô, lúa mì, đậu tương Việt Nam chi hơn 2,6 tỷ USD nhập ngô, lúa mì, đậu tương
- Olmix Asialand Việt Nam tuyển dụng nhân viên kinh doanh và quản lý khách hàng
- EW Group thương thảo mua lại Olmix nhằm tăng cường các giải pháp thức ăn chăn nuôi tự nhiên
- CPV Food Bình Phước nhận chứng nhận CPF Food Standard đầu tiên tại Việt Nam
- CERTILLUS® ECO: Giải pháp vi sinh độc quyền cho môi trường chăn nuôi bền vững từ ARM & HAMMER™ Animal Nutrition
- Tỷ phú vùng cao và “phép màu” từ chuồng trại
- Bí quyết xây dựng khẩu phần khởi động tối ưu cho gà con
- 6 cách phòng ngừa thoái hoá xương ở gà đẻ
- Chuyên gia bàn giải pháp sử dụng kháng sinh có kiểm soát trong chăn nuôi
- Ngành sữa Việt Nam: Cơ hội “bứt phá” từ nội lực
- Dịch tả heo châu Phi: Hiện trạng và giải pháp kiểm soát hiệu quả (Phần 1)
- Bộ NN&MT mở đợt ‘truy quét’ việc lạm dụng chất kích tăng trưởng, tăng trọng
- Cargill rút khỏi ngành thức ăn thủy sản tại Việt Nam, đóng cửa nhà máy tại Đồng Tháp và Long An
- Chăn nuôi dê bền vững theo chuỗi giá trị: Chủ nhà hàng là mắt xích quan trọng
- Da khỏe, lông đẹp: Chiến lược dinh dưỡng hiệu quả cho heo con sau cai sữa
- Lo ngại bệnh than, Campuchia ngừng nhập một số sản phẩm từ Thái Lan
- Cạn tiền, một công ty tại Nam Phi phải tiêu hủy hơn 350.000 con gà
- Bệnh Lymphoid Leukosis có triệu chứng như thế nào trên gà thịt lông màu?
























Bình luận mới nhất