Những kinh nghiệm đáng kể được tích lũy từ khi lệnh cấm sử dụng kháng sinh có hiệu lực ở Liên minh Châu Âu. Kể từ đó, nhiều chất phụ gia đã được thử nghiệm, đồng thời các cách thức quản lý cũng được thay đổi để đáp ứng tình hình thực tế. Sự lựa chọn nào phù hợp cho các nhà sản xuất?
Không phải tất cả những phương pháp được trình bày là có thể thay thế được thậm chí một phần lợi ích của thuốc kháng sinh. Trong một số trường hợp, có thể thay thế liều kháng sinh cao bằng liều kích thích tăng trưởng nhẹ hơn. Tuy nhiên, cuối cùng các nhà dinh dưỡng đã có cái nhìn sâu hơn về biện pháp thực sự có hiệu quả biện pháp nào không, ngay cả khi không phải tất cả biện pháp đều mang lại hiệu quả như nhau. Có lẽ, bài học quan trọng nhất đó là không có biện pháp riêng lẻ nào như công nghệ, chất phụ gia, và quản lý mang lại cùng hiệu quả tăng trọng với chi phí thấp như kháng sinh. Thay vào đó, sức mạnh tổng hợp giữa các phụ gia và quản lý thực tiễn mới thúc đẩy heo con tăng trưởng tốt nhất bằng cách bảo vệ sức khỏe đường ruột của chúng để chống lại các vi khuẩn gây bệnh. Thực tế là chi phí cho thức ăn không kháng sinh khá cao, vì công nghệ này vẫn còn đang được phát triển và các chất phụ gia liên quan phải mất thêm nhiều thời gian nữa mới có thể giảm được giá thành.
Để mang lại lợi ích cho các hệ thống sản xuất đang cân nhắc đến việc áp dụng hoặc thay đổi chiến lược kích thích tăng trọng qua thức ăn của họ, một danh sách các phương pháp thành công thường gặp trong các công thức không chứa kháng sinh được cung cấp dưới đây để tham khảo. Danh sách này chỉ là một tài liệu tham khảo cho việc thảo luận và phân tích chuyên sâu của các chuyên gia dinh dưỡng và đội ngũ thú y khi khảo sát trang trại.

1. Tình trạng sức khỏe tổng thể
Bất kỳ thuốc kháng sinh nào cũng sẽ trở nên hiệu quả hơn khi tình trạng sức khỏe kém. Ví dụ, chuồng heo con hoạt động liên tục. Cải thiện sức khỏe bằng cách cải thiện các biện pháp an toàn sinh học trong trang trại, áp dụng quy trình quản lý cùng vào – cùng ra, tăng cường dọn dẹp và khử trùng, và quan trọng nhất là ổn định sức khỏe đàn heo nái để giảm nhu cầu sử dụng thuốc kháng sinh.
2. Độ tuổi cai sữa
Hầu hết ở các nước EU, độ tuổi cai sữa từ 24 đến 28 ngày, trong khi các nhà sản xuất ở Bắc Mỹ thường cai sữa khi heo được khoảng ba tuần tuổi. Nghiên cứu và kinh nghiệm trước đây đã chỉ ra rằng tăng độ tuổi cai sữa, heo con có thể đối phó với các chấn thương thông thường sau cai sữa tốt hơn. Heo ăn vào nhiều hơn, tăng trưởng tốt hơn, chủ yếu là do thời gian tiếp xúc với thức ăn dặm lâu hơn và hệ miễn dịch được phát triển tốt hơn. Không phải ngẫu nhiên mà việc tăng cường ăn dặm được áp dụng ở hầu hết các trang trại EU hiện nay.
3. Lượng ăn vào
Lượng ăn vào đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sức khỏe đường ruột sau khi cai sữa. Nghiên cứu cho thấy sau một thời gian ngắn bị đói, ruột thẩm thấu các kháng nguyên nhanh hơn (như kháng nguyên trong bã nành) và nhạy cảm với vi khuẩn hơn. Sau đó tiêu chảy xuất hiện, nguyên nhân có thể là do quá mẫn cảm với các protein kháng nguyên hoặc từ các nội độc tố và ngoại độc tố gây ra bởi các tác nhân gây bệnh như khuẩn Escherichia coli.
4. Khả năng tiêu hóa chất dinh dưỡng
Các chất dinh dưỡng, đặc biệt là những protein không được hấp thụ ở hồi tràng cuối trở thành chất nền cho vi khuẩn phát triển trong ruột già. Đặc biệt, Escherichia coli phát triển mạnh trên protein không được tiêu hóa. Tất nhiên, một lượng vi khuẩn lớn không chỉ gây ảnh hưởng xấu đến dinh dưỡng động vật, mà còn là nơi ẩn náu của các mầm bệnh như colibacillus, Salmonella, vàClostridium. Do đó, mầm bệnh cần protein để phát triển và tăng số lượng, điều này có nghĩa là khi ta giảm tổng hàm lượng protein trong khẩu phần đồng thời tăng khả năng tiêu hóa các protein này, thì vi khuẩn sẽ bị suy giảm rõ rệt. Theo phương pháp này, điều quan trọng là cần cân bằng được lượng axit amin trong cơ thể vật nuôi (dựa vào các axit amin tinh thể) để phát huy tối đa khả năng tăng trưởng và tích lũy nạc.
5. Enzymes
Một số enzyme phân giải các yếu tố kháng dinh dưỡng, chẳng hạn như non-starch polysaccharides (NSP) trong ngũ cốc, cũng có ích trong công thức thức ăn không chứa kháng sinh. Phương thức hoạt động của chúng là gián tiếp giảm tính khả dụng của chất nền (thức ăn không được tiêu hóa) đối với vi khuẩn. Enzyme thủy phân cũng mang lại lợi ích cho heo con bằng cách tăng cường khả năng tiêu hóa protein, nhưng ít có nghiên cứu về đề tài này. Hơn thế nữa, một số bằng chứng cho thấy các enzyme có xu hướng làm giảm độ nhớt ruột, tăng cường lưu thông ở đường tiêu hóa do đó cản trở vi khuẩn phát triển. Toàn bộ chủ đề về enzyme với vi khuẩn đường ruột hiện vẫn chưa được làm rõ như mong đợi, nhưng chắc chắn vẫn là chủ đề có giá trị thu hút được nhiều sự quan tâm.
6. Axit hữu cơ
Hầu hết các vi khuẩn gây bệnh đều không dung nạp bởi axit, quá trình axit hóa ở dạ dày bằng các axit hữu cơ trong thức ăn có thể ngăn chặn hoặc thậm chí đảo ngược sự phát triển của vi sinh trong dạ dày. Một số axit hữu cơ có thể vào ruột non dưới dạng không bị phân ly chui vào trong tế bào vi khuẩn và sau đó tiêu diệt các vi khuẩn này. Những axit hữu cơ nào nên được sử dụng hiện đang là một trong những chủ đề gây tranh cãi nhất. Cùng với tranh luận là câu hỏi liệu một axit đơn hay một hỗn hợp axit là tốt nhất. Kết hợp với các axit hữu cơ, một số chiết xuất từ thực vật với đặc tính kháng khuẩn và kháng virus đã được chứng minh là mang lại hiệu quả.
7. Probiotic và prebiotic
Bổ sung lợi khuẩn sống hoặc bào tử vi khuẩn trong thức ăn của heo con cũng là một chiến lược thay thế nằm trong công thức thức ăn không chứa kháng sinh. Hầu hết các sản phẩm thương mại gồm một hoặc nhiều dòng lactobacilli và bifidobacteria, mặc dù trong danh sách không đề cập đến hai ví dụ này. Tuy các sản phẩm hiện đại có khả năng chịu nhiệt hơn các sản phẩm thế hệ cũ, nhưng quá trình ép viên dự đoán sẽ làm giảm hiệu quả của các sản phẩm này, thì việc bổ sung bào tử sau đó có lợi cho các sản phẩm. Trong bất kỳ trường hợp nào, cũng phải lựa chọn các dòng có khả năng chịu axit để chúng có thể được kết hợp trong quá trình axit hóa thức ăn. Điều này hiện vẫn được đánh giá cao, nhưng không đủ để phát huy hết lợi ích của vi khuẩn. Ngoài ra, cần cung cấp đủ thức ăn chứa vi khuẩn.
Thức ăn dinh dưỡng dưới dạng đường chưa lên men không tiêu hóa có thể thúc đẩy sự phát triển của quần thể vi khuẩn có lợi, như lactobacillus. Mannan-, transgalacto-, và fructo-oligosaccharides là một trong các prebiotic phổ biến nhất. Một số chuyên gia dinh dưỡng thích các loại xơ chức năng (prebiotics) từ các nguyên liệu như bã củ cải đường, bã táo và bã rau diếp xoăn.
8. Globulin miễn dịch
Globulin miễn dịch từ huyết tương hoặc bột trứng khô siêu miễn dịch (từ gà mái được siêu tiêm chủng kháng lại một số bệnh ở heo con) cải thiện lượng ăn vào và tăng trưởng sau cai sữa bằng cách bảo vệ sức khỏe đường ruột của heo con. Globulin miễn dịch là cơ chế bảo vệ tự nhiên mạnh nhất kháng lại bệnh tật, do đó được bổ sung vào giai đoạn quan trọng (cai sữa) nhằm hỗ trợ và nâng cao khả năng miễn dịch tự nhiên.
Kết luận
Hiện nay, không có chất phụ gia hay biện pháp quản lý riêng lẽ nào có thể thay thế được kháng sinh. Chưa có sản phẩm hoặc phương pháp hoàn hảo nào nào sẵn sàng để apngs dụng cho sản xuất thương phẩm. Cho đến lúc đó, sự kết hợp đồng bộ giữa các yếu tố được nêu trên là giải pháp thay thế tốt nhất, tuy nhiên thường có chi phí cao hơn.
Biên dịch: Ecovet Team (theo Pigprogress)
Nguồn tin: Ecovet
- thay thế kháng sinh li> ul>
- Kiểm soát PRRS, ASF và FMD SAT1 bằng giải pháp sinh học và công nghệ chăn nuôi hiện đại – Bài học thực tiễn từ Trung Quốc
- Tổng giám đốc AVAC Việt Nam kiến nghị về diễn giải kết quả xét nghiệm ổ dịch trong bối cảnh vắc-xin ASF đã được lưu hành tự do
- Quản lý ABC-4: Chìa khóa cho dinh dưỡng heo con
- Quảng Trị: Chủ động phòng, chống dịch bệnh cho đàn vật nuôi, giải pháp đồng bộ từ cơ sở đến tỉnh
- Ngăn ngừa dịch lở mồm long móng lan rộng
- Ngành chăn nuôi lợn Việt Nam: Công nghệ cao và chuyển đổi số dẫn dắt tương lai
- Từ dinh dưỡng đến miễn dịch: Nâng cao sức khỏe đàn heo bằng giải pháp toàn diện
- Quản lý dinh dưỡng và sức khỏe trong chăn nuôi heo: Từ tối ưu năng suất đến xây dựng khả năng chống chịu bền vững
- Mycoplasma suis trên heo: Nguy cơ âm thầm cần kiểm soát
- Giống vịt CT1234 phù hợp điều kiện chăn nuôi tại Hải Phòng
Tin mới nhất
T5,25/06/2026
- Phúc lợi động vật: Từ khuyến nghị tự nguyện đến yêu cầu tất yếu của ngành chăn nuôi hiện đại
- Đồng Tháp xử lý ổ dịch cúm gia cầm trên đàn vịt
- Đồng Tháp khẩn trương khống chế ổ dịch cúm gia cầm A/H5N1 tại xã Tân Thới
- Lợn đen Nhật Bản lai giống Việt: Tăng năng suất, nâng chất lượng thịt
- Kaico hợp tác với Reber Genetics (Đài Loan): Bước tiến chiến lược trong phát triển giải pháp chăn nuôi không kháng sinh
- Giá sản phẩm chăn nuôi (giá tại trại) cả nước ngày 23/06/2026
- UBND tỉnh Thái Nguyên ban hành quy định mới về bảo vệ môi trường trong chăn nuôi
- Kiểm soát PRRS, ASF và FMD SAT1 bằng giải pháp sinh học và công nghệ chăn nuôi hiện đại – Bài học thực tiễn từ Trung Quốc
- AAAP 2026: Hoàn thiện công tác chuẩn bị, tăng cường kết nối khoa học trong khu vực
- Hệ thống đàn khép kín trong chăn nuôi heo: Hướng đi mới trước áp lực dịch bệnh và yêu cầu nâng cao năng suất
- Ngành chăn nuôi heo trước thách thức mới trên hành trình phát triển bền vững
- Chuyên gia bàn giải pháp sử dụng kháng sinh có kiểm soát trong chăn nuôi
- Ngành sữa Việt Nam: Cơ hội “bứt phá” từ nội lực
- Dịch tả heo châu Phi: Hiện trạng và giải pháp kiểm soát hiệu quả (Phần 1)
- Bộ NN&MT mở đợt ‘truy quét’ việc lạm dụng chất kích tăng trưởng, tăng trọng
- Cargill rút khỏi ngành thức ăn thủy sản tại Việt Nam, đóng cửa nhà máy tại Đồng Tháp và Long An
- Chăn nuôi dê bền vững theo chuỗi giá trị: Chủ nhà hàng là mắt xích quan trọng
- Da khỏe, lông đẹp: Chiến lược dinh dưỡng hiệu quả cho heo con sau cai sữa
- Lo ngại bệnh than, Campuchia ngừng nhập một số sản phẩm từ Thái Lan
- Cạn tiền, một công ty tại Nam Phi phải tiêu hủy hơn 350.000 con gà
























Bình luận mới nhất