Carbon, truy xuất và dư lượng: “Cuộc sát hạch” buộc ngành chăn nuôi tái cấu trúc - Chăn nuôi Việt Nam
    • Giá heo (lợn) hơi miền Bắc từ 60.000 - 70.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hà Nội 69.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Hưng Yên 70.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Trung và Tây Nguyên từ 68.000 - 72.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Quảng Trị 70.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Thanh Hóa 68.000đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Lâm Đồng 72.000đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi miền Nam từ 69.000 - 72.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Đồng Nai 72.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Cà Mau 70.000 đ/kg
    • Giá heo (lợn) hơi Đồng Tháp 71.000 đ/kg
    •  
  • Carbon, truy xuất và dư lượng: “Cuộc sát hạch” buộc ngành chăn nuôi tái cấu trúc

    [Chăn nuôi Việt Nam] – Các thị trường nhập khẩu lớn như Trung Quốc, EU, Nhật Bản và Hoa Kỳ đang ngày càng siết chặt yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, phát thải carbon, tiêu chuẩn môi trường và an toàn thực phẩm. Trong bối cảnh đó, lợi thế cạnh tranh không còn chỉ nằm ở giá thành hay sản lượng, mà phụ thuộc ngày càng lớn vào khả năng minh bạch hóa toàn bộ chuỗi cung ứng.

     

    Carbon, truy xuất và dư lượng: “Cuộc sát hạch” buộc ngành chăn nuôi tái cấu trúc

     

    Ngành chăn nuôi bước vào “thời đại dữ liệu”

     

    Trong thương mại nông sản toàn cầu, các khái niệm như GACC, EUDR, ESG, carbon footprint hay MRL không còn là thuật ngữ kỹ thuật xa lạ. Chúng đang trở thành hệ thống tiêu chuẩn bắt buộc mà doanh nghiệp xuất khẩu phải đáp ứng nếu muốn duy trì hiện diện tại các thị trường lớn.

     

    Đối với ngành chăn nuôi, sức ép này càng rõ nét hơn bởi sản phẩm động vật vốn thuộc nhóm hàng có mức độ kiểm soát an toàn thực phẩm cao nhất. Thịt, trứng, sữa hay sản phẩm chế biến từ động vật không chỉ bị kiểm tra về chất lượng cảm quan mà còn phải chứng minh được toàn bộ “lý lịch sản xuất” của chuỗi cung ứng.

     

    Các nhà nhập khẩu hiện muốn biết vật nuôi được nuôi ở đâu, sử dụng loại thức ăn nào, có dùng kháng sinh hay chất cấm không, quy trình giết mổ ra sao, phát thải khí nhà kính ở mức nào và hệ thống phúc lợi động vật có đáp ứng yêu cầu hay không.

     

    Điều đó đồng nghĩa ngành chăn nuôi đang bước từ mô hình “sản xuất sản phẩm” sang mô hình “sản xuất dữ liệu”. Mỗi trang trại, mỗi lô vật nuôi và mỗi nhà máy chế biến đều phải có khả năng truy xuất điện tử rõ ràng.

     

    Trung Quốc không còn là thị trường “dễ tính”

     

    Sự thay đổi mạnh mẽ nhất đang đến từ Trung Quốc – thị trường tiêu thụ khổng lồ của nông sản và thực phẩm Việt Nam. Việc Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC) triển khai các quy định quản lý nhập khẩu mới cho thấy nước này đang chuyển hoàn toàn sang mô hình kiểm soát số hóa và đánh giá rủi ro dựa trên dữ liệu doanh nghiệp.

     

    Với ngành chăn nuôi, điều này đặc biệt quan trọng bởi các sản phẩm thịt, nội tạng, tổ yến, sữa hay TĂCN đều thuộc nhóm có nguy cơ kiểm soát cao. Doanh nghiệp xuất khẩu hiện không chỉ phải đáp ứng yêu cầu về kiểm dịch mà còn phải duy trì hồ sơ điện tử đầy đủ về vùng nuôi, cơ sở giết mổ, nhà máy chế biến, hệ thống an toàn sinh học và lịch sử tuân thủ. Một lô hàng không truy xuất được nguồn gốc, sử dụng nguyên liệu không đạt chuẩn hoặc vi phạm dư lượng kháng sinh có thể khiến toàn bộ doanh nghiệp bị đưa vào nhóm rủi ro cao.

     

    Điều đáng chú ý, xu hướng này đang buộc ngành chăn nuôi Việt Nam phải thay đổi cấu trúc sản xuất. Mô hình thu gom nhỏ lẻ từ nhiều hộ dân, thiếu nhật ký chăn nuôi và thiếu kiểm soát đồng nhất sẽ ngày càng khó đáp ứng yêu cầu xuất khẩu chính ngạch.

     

    Carbon trở thành “rào cản mềm” mới của ngành chăn nuôi

     

    Theo nhiều nghiên cứu, chăn nuôi là một trong những lĩnh vực phát thải khí nhà kính đáng kể của nông nghiệp toàn cầu, chủ yếu đến từ methane trong quá trình tiêu hóa của gia súc nhai lại, chất thải chăn nuôi và tiêu thụ năng lượng trong chuỗi sản xuất. Tại Việt Nam, phát thải từ chăn nuôi đang gia tăng cùng với quá trình chuyển dịch sang sản xuất quy mô lớn. Các hệ thống chuồng kín, làm mát, thông gió, chế biến thức ăn và logistics lạnh đều tiêu tốn lượng điện năng lớn.

     

    Trong tương lai, nhiều thị trường có thể yêu cầu doanh nghiệp khai báo “dấu chân carbon” đối với từng sản phẩm thịt, sữa hoặc thực phẩm chế biến. Khi đó, 1kg thịt gà hay thịt heo không chỉ được đánh giá bằng giá bán mà còn bằng lượng phát thải tạo ra trong toàn bộ vòng đời sản phẩm.

     

    Đây là áp lực rất lớn nhưng cũng mở ra xu hướng tái cấu trúc ngành theo hướng “chăn nuôi xanh”. Các mô hình sử dụng năng lượng tái tạo, điện mặt trời áp mái, hầm biogas, tái sử dụng chất thải hữu cơ hay tối ưu hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) sẽ ngày càng trở thành lợi thế cạnh tranh.

     

    Nhiều doanh nghiệp chăn nuôi lớn tại Việt Nam hiện đã bắt đầu đầu tư vào kinh tế tuần hoàn, phát điện từ biogas và quản trị phát thải như một phần trong chiến lược ESG nhằm đáp ứng yêu cầu từ các chuỗi bán lẻ quốc tế.

     

    Dư lượng kháng sinh tiếp tục là “điểm nghẽn” lớn

     

    Kiểm soát dư lượng tối đa cho phép (MRL) vẫn là thách thức lớn đối với ngành chăn nuôi Việt Nam. Không giống trước đây khi kiểm tra chủ yếu tập trung ở khâu cuối cùng, hiện nay các thị trường nhập khẩu đang chuyển sang kiểm soát toàn bộ quá trình sản xuất. Điều này đặc biệt nghiêm ngặt đối với thịt và thủy sản – nhóm hàng thường liên quan tới tồn dư kháng sinh, hóa chất thú y hoặc chất kích thích tăng trưởng. Nhiều hoạt chất kháng sinh từng được sử dụng phổ biến trong chăn nuôi hiện bị kiểm soát rất chặt tại EU, Nhật Bản và Hoa Kỳ. Các thị trường này liên tục hạ ngưỡng dư lượng về mức cực thấp hoặc cấm hoàn toàn một số hoạt chất có nguy cơ ảnh hưởng sức khỏe người tiêu dùng.

     

    Áp lực lớn nhất hiện nay nằm ở chỗ Việt Nam vẫn còn tỷ lệ chăn nuôi nông hộ cao. Việc sử dụng thuốc thú y, kháng sinh và thức ăn bổ sung ở nhiều nơi chưa được quản lý đồng bộ, khiến nguy cơ vi phạm dư lượng vẫn tồn tại.

     

    Trong khi đó, thế giới đang chuyển mạnh sang mô hình “không kháng sinh”, chăn nuôi hữu cơ, phúc lợi động vật và an toàn sinh học cao. Điều này buộc doanh nghiệp phải đầu tư bài bản hơn vào vaccine, dinh dưỡng, quản lý môi trường chuồng trại và công nghệ kiểm soát dịch bệnh thay vì phụ thuộc vào kháng sinh như trước.

     

    Doanh nghiệp chăn nuôi “đi trước” để thích ứng với luật chơi mới

     

    Trong bối cảnh các thị trường xuất khẩu ngày càng siết chặt yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, phát thải carbon và tiêu chuẩn ESG, nhiều doanh nghiệp chăn nuôi lớn tại Việt Nam đã chủ động tái cấu trúc mô hình sản xuất theo hướng minh bạch và bền vững hơn như Mavin, C.P, Greenfeed, TH, Vinamilk… Đây không còn là câu chuyện “đón đầu xu hướng”, mà đã trở thành yêu cầu mang tính sống còn nếu muốn tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

     

    Là một trong số ít doanh nghiệp tại Việt Nam phát triển chuỗi giá trị khép kín “Feed – Farm – Food”, Mavin Group được xem là ví dụ tiêu biểu cho xu hướng chuyển đổi này. Theo ông David John Whitehead – Tổng Giám đốc Tập đoàn, Mavin bắt đầu tích hợp ESG vào chiến lược tăng trưởng từ khá sớm, đặc biệt sau khi nhận được sự đồng hành của IFC – thành viên Nhóm Ngân hàng Thế giới vào năm 2022. Với doanh nghiệp, ESG không chỉ là yêu cầu tuân thủ mà là nền tảng để xây dựng mô hình chăn nuôi có khả năng thích ứng dài hạn trước biến động thị trường, dịch bệnh và các tiêu chuẩn quốc tế ngày càng khắt khe.

     

    Trên nền tảng chuỗi sản xuất khép kín, Mavin đã đẩy mạnh số hóa toàn bộ hoạt động quản trị thông qua hệ thống SAP ERP từ năm 2019 nhằm chuẩn hóa dữ liệu, kiểm soát nguyên liệu đầu vào và nâng cao khả năng truy xuất nguồn gốc. Đây được xem là yếu tố then chốt trong bối cảnh nhiều thị trường nhập khẩu đang chuyển từ kiểm tra chất lượng sản phẩm sang kiểm soát toàn bộ “hồ sơ dữ liệu” của chuỗi cung ứng.

     

    Mavin hiện là một trong những doanh nghiệp nông nghiệp đầu tiên tại Việt Nam tiếp cận thành công các khoản vay xanh (Sustainability-Linked Loan) từ HSBC trong hai năm liên tiếp 2024-2025, đồng thời phát hành “Báo cáo Phát triển bền vững” theo chuẩn quốc tế từ năm 2023.

     

    Trong bối cảnh yêu cầu về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và minh bạch chuỗi cung ứng ngày càng cao, C.P. Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh mô hình sản xuất khép kín Feed – Farm – Food nhằm nâng cao năng lực quản trị và chất lượng sản phẩm. Với 21 nhà máy cùng hơn 2.500 trang trại chính chủ và liên kết sau hơn 30 năm hoạt động tại Việt Nam, doanh nghiệp xây dựng hệ thống kiểm soát chất lượng và truy xuất nguồn gốc xuyên suốt toàn chuỗi.

     

    Tổ hợp CPV Food Bình Phước, tổng vốn đầu tư 250 triệu USD, giữ vai trò trung tâm trong chiến lược phát triển thực phẩm chế biến của doanh nghiệp. Nhà máy áp dụng đồng bộ các tiêu chuẩn quốc tế như HACCP, ISO 9001, ISO 22000 và BRC. Đáng chú ý, CPV Food Bình Phước là đơn vị đầu tiên tại Việt Nam và ngoài Thái Lan đạt chứng nhận CPF Food Standard PS 7818:2023 do BSI đánh giá. Hiện sản phẩm thịt gà chế biến của C.P. Việt Nam đã xuất khẩu sang nhiều thị trường như Nhật Bản, Singapore, Hồng Kông (Trung Quốc), Nga và Mông Cổ, khẳng định năng lực đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế ngày càng khắt khe.

     

    Trong bối cảnh thương mại toàn cầu đang chuyển mạnh sang cạnh tranh bằng dữ liệu, phát thải và tính minh bạch, những doanh nghiệp tiên phong đầu tư vào ESG, chuyển đổi số và kinh tế tuần hoàn sẽ có lợi thế lớn trong việc tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng thực phẩm quốc tế.

     

    Trong “luật chơi” mới của thương mại toàn cầu, sản phẩm chăn nuôi muốn đi xa sẽ không chỉ cần an toàn và ngon, mà còn phải chứng minh được toàn bộ “câu chuyện dữ liệu” phía sau chuỗi sản xuất.

     

    Thu Hằng

    MỘT SỐ QUY ĐỊNH KIỂM SOÁT THỰC PHẨM NHẬP KHẨU TRÊN THẾ GIỚI

     

    NHẬT BẢN: Nhật Bản sửa đổi Luật Vệ sinh Thực phẩm từ năm 2003 và triển khai hệ thống “Positive List” từ năm 2006 nhằm kiểm soát dư lượng thuốc thú y, kháng sinh và hóa chất trong thực phẩm nhập khẩu. Đến tháng 02/2025, nước này tiếp tục hạ ngưỡng MRL đối với nhiều hoạt chất kháng sinh như Sulfadiazine, Sulfamethoxazole hay Tylosin, đồng thời tăng tần suất kiểm tra đối với thịt, trứng, sữa và thủy sản nhập khẩu.

     

    HOA KỲ: Đạo luật Hiện đại hóa An toàn Thực phẩm (FSMA) được Hoa Kỳ ban hành từ năm 2011 và tiếp tục được siết chặt bằng Quy định FSMA 204 công bố ngày 21/11/2022. Quy định mới yêu cầu doanh nghiệp phải lưu trữ dữ liệu truy xuất điện tử cho từng lô hàng và có khả năng cung cấp thông tin cho cơ quan quản lý trong thời gian ngắn, thường dưới 24 giờ.

     

    SG VÀ NET ZERO: Sau Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu năm 2015, nhiều quốc gia và tập đoàn bán lẻ quốc tế bắt đầu yêu cầu doanh nghiệp công bố dữ liệu ESG, phát thải carbon và “dấu chân carbon” của sản phẩm. Với ngành chăn nuôi, các tiêu chí như phát thải methane, quản lý chất thải, sử dụng năng lượng và phúc lợi động vật đang trở thành “rào cản mềm” mới trong thương mại toàn cầu.

     

    EEU – EUDR: Ngày 31/5/2023, Liên minh châu Âu ban hành Quy định chống phá rừng EUDR (Regulation (EU) 2023/1115), yêu cầu doanh nghiệp phải chứng minh sản phẩm không liên quan đến phá rừng sau ngày 31/12/2020 và cung cấp dữ liệu truy xuất tới tận tọa độ vùng sản xuất. Các nguyên liệu liên quan đến ngành chăn nuôi như bò thịt, da thuộc và đậu tương nằm trong nhóm kiểm soát trọng điểm.

     

    EU – PPWR VÀ CBAM: Ngày 11/02/2025, EU ban hành Quy định PPWR về bao bì và rác thải bao bì, mở rộng kiểm soát sang yếu tố môi trường của bao bì thực phẩm nhập khẩu. Song song đó, EU đang hoàn thiện cơ chế CBAM nhằm kiểm soát phát thải carbon trong chuỗi cung ứng, mở đường cho việc siết dữ liệu phát thải đối với nông nghiệp và thực phẩm trong tương lai.

     

    TRUNG QUỐC: Ngày 12/4/2021, Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC) ban hành Lệnh 248 và 249, chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2022, yêu cầu doanh nghiệp nước ngoài phải đăng ký mã số, khai báo hệ thống an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và lịch sử tuân thủ trước khi được xuất khẩu vào Trung Quốc. Ngày 14/10/2025, GACC ban hành Lệnh 280 thay thế Lệnh 248, chính thức áp dụng từ ngày 01/6/2026, tiếp tục siết quản lý dữ liệu doanh nghiệp xuất khẩu thực phẩm theo hướng số hóa toàn bộ hồ sơ và phân loại nhóm “thực phẩm nguy cơ cao”. Ngày 12/6/2025, Trung Quốc cũng công bố bộ tiêu chuẩn ghi nhãn thực phẩm mới GB 7718-2025 và GB 28050-2025, dự kiến áp dụng từ ngày 16/3/2027 với yêu cầu bổ sung cảnh báo dị ứng, chuẩn hóa nhãn và tăng truy xuất bằng mã QR điện tử.

    Để lại comment của bạn


    Bình luận mới nhất

  • Le thi chi
  • 0383775034

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Theo UBND xã Minh Châu – Ba Vì – Hà Nội, xác định lợi thế về đất đai, khí hậu nên những năm qua đã đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp là chính, trong đó xã tập trung đến phát triển chăn nuôi bò sinh sản, bò thịt. […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Trong bối cảnh bệnh Dịch tả lợn châu Phi (DTLCP) đã xảy ra tại TP Hồ Chí Minh, thành phố càng nỗ lực thực hiện các biện pháp kiểm soát chăn nuôi, giết mổ và tiêu thụ gắt gao. Hơn nữa, khảo sát một đêm tại thị trường […]

    • [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] – Anh Trần Văn Toản, ở khu vực Bình Yên B, phường Long Hòa, quận Bình Thủy, TP. Cần Thơ là người đầu tiên ở Đồng bằng sông Cửu Long mở trang trại nuôi chim công rất thành công mà cho thu nhập hơn 200 triệu đồng/năm.   1/ […]

    • Giống chim này có khả năng thích ứng cao với điều kiện khí hậu ở nước ta, tỷ lệ nuôi sống đạt 94-99%.

    • Để đàn gà sinh trưởng phát triển tốt có tỷ lệ sống cao cần thực hiện tốt kỹ thuật úm gà con

    • Việt Nam cùng với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ… là những nước đã nuôi trồng thành công đông trùng hạ thảo.

    • Gà vảy cá được mệnh danh là “mỹ kê” đã được nhiều đại gia Việt sẵn sàng chi tiền triệu để hữu cặp gà vảy cá đẹp.

    • Cừu chính là loài vật nuôi thích hợp với những điều kiện khắc nghiệt của vùng đất Ninh Thuận.

    • Nghề nuôi chim cút đẻ hiện đang phổ biến ở rất nhiều hộ gia đình tại các địa phương và mang lại hiệu quả kinh tế khá.

    • Tỉnh Phú Thọ với địa hình đa dạng: nhiều gò, đồi thấp, dải đồng bằng thuận lợi cho chăn nuôi, trong đó, có chăn nuôi gà lông màu.