Quyết định giải quyết vấn đề biến động dinh dưỡng – và chi phí – phải phụ thuộc vào yêu cầu và khả năng cụ thể.
Trong bài viết “Sự ảnh hưởng của viêc biến động dinh dưỡng trong nguyên liệu thức ăn chăn nuôi” số tháng 3-4 của tạp chí Feed Management, hàm lượng lysine trong bắp có sự thay đôi nhẹ so với dự kiến (dựa theo tài liệu), điều này có thể làm chậm tăng trưởng 2 ngày, với kết quả thậm chí tệ hơn so với kì vọng của biến động lysine tự nhiên trong khô dầu đậu nành – nguyên liệu cung cấp phần lớn lysine trong thức ăn chăn nuôi.
Vấn đề là phương pháp quản lý biến động (không thể tránh khỏi) về dinh dưỡng trong nguyên liệu thông qua việc tổ hợp khẩu phần. Để làm được điều này, chúng ta cùng nghiên cứu 3 phương pháp.

Phương pháp 1. Chấp nhận biến động và không làm bất cứ điều gì
Nghe có vẻ như phản tác dụng, tuy nhiên việc không thay đổi gì là việc mà những người làm công thức thường lựa chọn. Thật vậy, ít khi người ta để ý đến sự biến động dinh dưỡng nguyên liệu đặc biệt khi thiết kế những công thức chung chung. Bởi vậy, chúng ta dựa vào các giá trị trung bình được đề cập trong các ấn phẩm tin cậy với hi vọng sự biến động dinh dưỡng của các nguyên liệu khác nhau sẽ triệt tiêu lẫn nhau theo hướng xoay quanh giá trị trung bình mong đợi.
Mặt khác, chúng ta chấp nhận sự dao động so với tiêu chuẩn dinh dưỡng mục tiêu (về khía cạnh giảm hiệu quả chăn nuôi) hoặc vượt quá mục tiêu (về quan điểm tiết kiệm từ tránh lãng phí dinh dưỡng) việc này tốn ít chi phí hơn đáng kể so với việc giải quyết vấn đề bằng các phương pháp khác. Phương pháp này có vẻ như rất mơ hồ để giải quyết một vấn đề quan trọng, nhưng hiện tại nó được chấp nhận một cách bình thường.
Phương pháp 2. Sử dụng số liệu thực tế dựa trên kết quả phân tích nguyên liệu
Phương pháp này dựa trên các phân tích hóa học thực tế (trong phòng thí nghiệm) hoặc phân tích cận hồng ngoại (NIR). Kết quả thực tế được đưa vào phần mềm lập công thức trên máy tính và khẩu phần ăn được xây dựng rất gần với các thông số kỹ thuật thực tế. Tuy nhiên, có một vài rào cản khiến phương pháp này khó được triển khai.
Điều thứ nhất là khoảng cách thời gian giữa phân tích dinh dưỡng và ứng dụng (ở đây, phương pháp NIR có nhiều lợi thế hơn). Thứ hai là việc phân tách các lô của cùng một nguyên liệu với sự biến động thành phần dinh dưỡng khác nhau. Cuối cùng, tất nhiên sẽ liên quan đến chi phí thực hiện phương pháp, nó đòi hỏi thời gian bỏ ra, nhân lực (thu thập mẫu) và chi phí phân tích.
Phương pháp này có thể chỉ được sử dụng bởi các doanh nghiệp lớn có thể mua các lô hàng nguyên liệu thô được lưu trữ trong các silo lớn, và chỉ cần phân tích 1 mẫu tổng hợp được thu thập trong quá trình dỡ hàng.
Phương pháp 3. Sử dụng giá trị thực hoặc ước lượng biến động dinh dưỡng trong công thức
Các hệ số biến dị về dinh dưỡng (thông qua các công bố hoặc từ phần tích thực tế như ở phương pháp 2) có thể được đưa vào các phần mềm tổ hợp khẩu phần.
Về cơ bản, phạm vi biến động kì vọng bao gồm tỷ lệ nguyên liệu được để cập – và chi phí dinh dưỡng từ nguyên liệu đó – được xem xét để điều chỉnh đặc điểm dinh dưỡng của khẩu phần nhằm đáp ứng tiêu chuẩn dinh dưỡng kỳ vọng đã được thiết lập giới hạn trước đó. Nhược điểm duy nhất của phương pháp này chính là chương trình có thể tạo ra những công thức đắt tiền hơn so với phương pháp 1. Tuy nhiên, chi phí tăng thêm đó có thể được bù đắp do hiệu quả chăn nuôi được cải thiện bởi vì thú được cung cấp khẩu phần phù hợp hơn với nhu cầu của chúng.
Không có cách nào để tránh thiệt hại do việc biến động dinh dưỡng của nguyên liệu. Chúng ta có thể bỏ qua vấn đề này và thiệt hại sẽ diễn ra qua việc giảm năng suất chăn nuôi hoặc chúng ta chấp nhận chi trả cho các phương pháp nhằm giảm ảnh hưởng của biến động.
Mỗi cơ sở sản xuất cần lựa chọn một giải pháp thích hợp cho vấn đề này. Ví dụ, những trại nhỏ thường lựa chọn phương pháp 1; những trại lớn hơn thường kỳ vọng sẽ lựa chọn phương pháp 3 (hoặc thậm chí là kết hợp phương pháp 2 và 3); và các nhà máy lớn rõ ràng cần cân nhắc sử dụng phương pháp 2.
Mục tiêu cuối cùng là đạt đến sự cân bằng giữa chi phí và tiết kiệm.
Biên dịch: Ecovet Team (theo WattAgnet)
Nguồn: Ecovet
- công thức thức ăn li> ul>
- Đồng Nai: Tiêu hủy gần 2.000 con lợn mắc dịch tả lợn châu Phi, khẩn trương ngăn dịch lây lan
- Kiểm soát PRRS, ASF và FMD SAT1 bằng giải pháp sinh học và công nghệ chăn nuôi hiện đại – Bài học thực tiễn từ Trung Quốc
- Tổng giám đốc AVAC Việt Nam kiến nghị về diễn giải kết quả xét nghiệm ổ dịch trong bối cảnh vắc-xin ASF đã được lưu hành tự do
- Quản lý ABC-4: Chìa khóa cho dinh dưỡng heo con
- Quảng Trị: Chủ động phòng, chống dịch bệnh cho đàn vật nuôi, giải pháp đồng bộ từ cơ sở đến tỉnh
- Ngăn ngừa dịch lở mồm long móng lan rộng
- Ngành chăn nuôi lợn Việt Nam: Công nghệ cao và chuyển đổi số dẫn dắt tương lai
- Từ dinh dưỡng đến miễn dịch: Nâng cao sức khỏe đàn heo bằng giải pháp toàn diện
- Quản lý dinh dưỡng và sức khỏe trong chăn nuôi heo: Từ tối ưu năng suất đến xây dựng khả năng chống chịu bền vững
- Mycoplasma suis trên heo: Nguy cơ âm thầm cần kiểm soát
Tin mới nhất
T5,25/06/2026
- Olmix Việt Nam tuyển dụng thực tập sinh phòng xét nghiệm ViphaLab
- Olmix Asialand Việt Nam tuyển dụng: Quản lý khách hàng chiến lược (thuốc & vaccine thú y) – khu vực miền Đông
- Đồng Nai: Tiêu hủy gần 2.000 con lợn mắc dịch tả lợn châu Phi, khẩn trương ngăn dịch lây lan
- Chỉ số Phúc lợi động vật Việt Nam (Animal Protection Index) cần thay đổi để tiệm cận quốc tế
- Phúc lợi động vật: Từ khuyến nghị tự nguyện đến yêu cầu tất yếu của ngành chăn nuôi hiện đại
- Đồng Tháp xử lý ổ dịch cúm gia cầm trên đàn vịt
- Đồng Tháp khẩn trương khống chế ổ dịch cúm gia cầm A/H5N1 tại xã Tân Thới
- Lợn đen Nhật Bản lai giống Việt: Tăng năng suất, nâng chất lượng thịt
- Kaico hợp tác với Reber Genetics (Đài Loan): Bước tiến chiến lược trong phát triển giải pháp chăn nuôi không kháng sinh
- Giá sản phẩm chăn nuôi (giá tại trại) cả nước ngày 23/06/2026
- Ngành chăn nuôi heo trước thách thức mới trên hành trình phát triển bền vững
- Chuyên gia bàn giải pháp sử dụng kháng sinh có kiểm soát trong chăn nuôi
- Ngành sữa Việt Nam: Cơ hội “bứt phá” từ nội lực
- Dịch tả heo châu Phi: Hiện trạng và giải pháp kiểm soát hiệu quả (Phần 1)
- Bộ NN&MT mở đợt ‘truy quét’ việc lạm dụng chất kích tăng trưởng, tăng trọng
- Cargill rút khỏi ngành thức ăn thủy sản tại Việt Nam, đóng cửa nhà máy tại Đồng Tháp và Long An
- Chăn nuôi dê bền vững theo chuỗi giá trị: Chủ nhà hàng là mắt xích quan trọng
- Da khỏe, lông đẹp: Chiến lược dinh dưỡng hiệu quả cho heo con sau cai sữa
- Lo ngại bệnh than, Campuchia ngừng nhập một số sản phẩm từ Thái Lan
- Cạn tiền, một công ty tại Nam Phi phải tiêu hủy hơn 350.000 con gà
























Bình luận mới nhất